Tây Phương Tam Thánh

 

 

BỒ ĐỀ TÂM

 


... “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát lòng Vô Thượng Bồ Đề là khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sanh. Khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu chánh pháp, tất cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn, cầu nhứt thiết trí. Khởi lòng đại bi vô lượng, nhiếp độ tất cả chúng sanh. Khởi lòng không bỏ rơi các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu Bát Nhã Ba La Mật. Khởi lòng không siểm dối, vì cầu được trí như thật. Khởi lòng thực hành y như lời nói, để tu đạo Bồ Tát. Khởi lòng không dối với chư Phật, vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu nhứt thiết trí, cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không dừng nghỉ. Bồ Tát dùng những công đức Bồ Đề Tâm nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật như thế, nên được sanh vào nhà Như Lai. Nầy thiện nam tử! Như người học bắn, trước phải tập thế đứng, sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ Tát muốn học đạo nhứt thiết trí của Như Lai, trước phải an trụ nơi Bồ Đề Tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu, nhưng tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ Tát tuy mới phát Bồ Đề tâm tu Bồ Tát hạnh, nhưng tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải kính trọng nể vì. Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, nhưng đã đủ tướng trạng của vua, các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sanh tôn quý.

Cũng thế Bồ Tát tuy đối với tất cả nghiệp phiền não chưa được tự tại, nhưng đã đầy đủ tướng trạng Bồ Đề, hàng nhị thừa không thể sánh bằng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhứt. Thiện Nam Tử ! Như người máy bằng gỗ, nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế, Bồ Tát nếu thiếu Bồ Đề tâm, thì các hạnh đều phân tán, không thể thành tựu tất cả Phật pháp. Thiện nam tử ! Như chất kim cương tất cả vật không thể phá hoại, trái lại nó có thể phá hoại tất cả vật, nhưng thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ Đề tâm của Bồ Tát cũng thế, khắp ba đời, trong vô số kiếp, giáo hóa chúng sanh, tu các khổ hạnh, việc mà hàng nhị thừa không thể làm đều làm được, nhưng kết cuộc vẫn chẳng chán mỏi, tổn giảm.” (Kinh Hoa Nghiêm)

 

Kinh Giải Thâm Mật


Thích Pháp Chánh dịch

Giải Thâm Mật, một trong những bộ kinh có ảnh hưởng vĩ đại nhất trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, trình bày một kho tàng giáo lý phong phú đặt nặng trên phương diện triết lý và tu tập. Sự giải thích ý nghĩa của thắng nghĩa đế, A lại da thức (ālaya-vijñāna), và thuyết lý về Duy thức (vijñapti-mātra) của nó, đã có một tầm mức ảnh hưởng vô cùng rộng lớn trong những quốc gia mà Phật giáo Đại thừa đã phát triển, bao gồm Ấn độ, Tây tạng, Mông cổ, Trung hoa, Đại hàn và Nhật bổn...

Kinh Giải Thâm Mật dạy chúng ta phương cách khai thác toàn diện thể lực và trí lực trong việc tu tập. Kinh này, toàn diện và đa diện, đã giảng giải chi tiết về thế giới quan, các giai bậc tu chứng, và những phương cách tu tập thiền định cần thiết cho sự chuyển hóa tâm thức, dù là đó là những vô minh vi tế nhất. Hành giả được hướng dẫn trên một lộ trình đưa đến sự quân bình tâm thức, trí tuệ thấu triệt chân tướng của sự vật, và thệ nguyện kiên cố đem lợi ích đến chúng sinh trong một tinh thần tuyệt đối vị tha... (John Powers: Wisdom of the Buddha)

Kinh Giải Thâm Mật (pdf)

 

Luận Hiển Dương Thánh Giáo

Bồ Tát Vô Trước tạo luận
Quảng Minh dịch và chú thích

Luận Hiển dương Thánh giáo 顯揚聖教論, tiếng Phạn là Ārya-śāsanaprakaraṇa-śāstra hay Prakaranaryavaca-sastra (Acclamation of the Scriptural Teaching/ Treatise of Acclamation of the Sagely Teaching), là một bộ luận trọng yếu của Phật giáo Đại thừa Duy thức tông, do đại sĩ Vô Trước (無著,310-390) trước tác. Về hệ thống truyền thừa của Duy thức tông, nó bắt nguồn từ sau khi đức Phật nhập diệt 900 năm, ở Ấn độ có Bồ-tát Di lặc ra đời nói luận Du-già sư địa; ngài Vô trước vâng theo ý chỉ của luận này mà soạn ra các bộ: luận Đại thừa trang nghiêm kinh, luận Nhiếp đại thừa và luận Hiển dương Thánh giáo. Vào đời Đường, ngài Huyền Trang (玄奘, 602-664) phiên dịch luận này ra chữ Hán.

Luận này còn được gọi là Tổng bao chúng nghĩa luận 總苞眾義論, Quảng bao chúng nghĩa luận 廣苞眾義論 (vì bao quát các nghĩa của 10 chi luận), và gọi tắt là Hiển dương luận. Luận này có 20 quyển, nằm trong Đại chánh tân tu đại tạng kinh, tập 31, No. 1602. Luận này làm cho yếu nghĩa của bộ luận Du-già sư địa được sáng tỏ rực rỡ nhất, nên gọi là Hiển dương Thánh giáo, hoặc Tiểu Du-già luận. Luận này là một trong 10 chi luận Du già; là một trong 11 bộ luận của tông Duy thức và là chỗ y cứ của luận Thành duy thức. Thánh giáo là giáo pháp của Phật. Trong nghĩa hẹp, Thánh giáo là “sáu kinh, mười một luận”, là “một kinh, một luận.”

Luận Hiển Dương Thánh Giáo (pdf)

 

Luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh

Bồ tát Vô Trước tạo luận
Quảng Minh dịch và chú thích

Luận Đại thừa trang nghiêm kinh (大乘莊嚴經論, Mahāyānasūtralaṃkāra), nằm trong Đại tạng kinh bản Đại chánh số 1604, gồm 13 quyển, 24 phẩm, do Đại sĩ Vô Trước luận giải. Theo truyền thuyết thì luận này được ngài Vô Trước biên tập sau khi đã thọ giáo với Di-lặc (Maitreya) trên cung trời Đâu-suất (Tusita). Nói cách khác, luận này bao gồm những câu kệ của Bồ tát Di-lặc và những lời chú giải của ngài Vô Trước. Phạn ngữ là Mahāyānasūtralamkāra, trong đó Mahāyāna là Đại thừa (大乘), sūtra là kinh (經), ālamkāra là trang nghiêm (莊嚴). 

Đời Đường, từ năm 630 đến năm 633, ngài Ba-la-phả-mật-đa-la (波羅頗蜜多羅, Prabhākaramitra) dịch luận này với danh đề Đại thừa trang nghiêm kinh luận (大乘莊嚴經論). Nhiếp Đại thừa luận bản (攝大乘論本) đề cập đến luận này với danh xưng Đại thừa kinh trang nghiêm luận (大乘經莊嚴論). Danh đề của luận này có thâm ý là sự trang nghiêm kinh điển Đại thừa, hay sự trang nghiêm Đại thừa, vì vậy trong Thành duy thức luận thuật ký (成唯識論述記), Ngài Khuy Cơ (窺基, 632-682), đệ tử lỗi lạc của ngài Huyền Trang, nhận định: “Nên gọi là “Trang nghiêm đại thừa kinh luận” (莊嚴大乘經論), vì [luận này] có thể trang nghiêm kinh điển Đại thừa. Lúc trước gọi “Luận Đại thừa trang nghiêm kinh” là không đúng, bởi lẽ không có [kinh tên] Đại thừa trang nghiêm kinh.” ...

Luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh (pdf)

 

Nhập Bồ Tát Hạnh Tập Chú

 

Bản hiệu đính 2016

Bộ luận trứ danh nhan đề Nhập Bồ Tát Hạnh (Phạn: Bodhisattvacharyavatara) là một kiệt tác của Bồ tát Tịch Thiên (Phạn: Shantideva), một bậc cao tăng lừng lẫy của Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ tám. Bộ Thánh điển này là một cẩm nang thực tiển, hướng dẫn chúng ta làm thế nào để thể nhập, thăng tiến, và hoàn thành con đường đi đến Phật quả. Nó là sự cô đọng tất cả lời dạy của Đức Bổn Sư, và chỉ dẫn một cách rất rõ ràng phương cách làm thế nào để áp dụng lời dạy của Đức Thế Tôn vào cuộc sống thực tiển hằng ngày.

Bộ sách này của ngài Tịch Thiên đã là một nguồn khích lệ mạnh mẽ cho những tác phẩm Phật giáo vĩ đại khác, chẳng hạn như Tám Bài Kệ Huấn Luyện Tâm Thức (Anh: Eight Verses of Training the Mind) của ngài Langri Tangpa thuộc dòng Kadampa, và Bảy Điểm Huấn Luyện Tâm Thức (Anh: Training the Mind in Seven Points) của Bồ tát Chekhawa. Hai quyển sách này giảng giải phương cách tán thán công đức của người khác, tu tập pháp quán “sự bình đẳng giữa mình và người”, “trao đổi mình và người”, cách thực tập “cho và nhận”, và phương cách chuyển đổi nghịch cảnh thành phương tiện giải thoát. Tất cả lời giáo huấn này đều được trích lục từ Nhp B Tát Hnh của ngài Tịch Thiên. Rất nhiều hành giả phái Kadampa đã thuộc nằm lòng những lời dạy của ngài, và ngài Tsong Khapa cùng các đệ tử cũng đã từng nhiệt liệt tán thán kiệt tác này của Bồ tát Tịch Thiên...

Nhập Bồ Tát Hạnh Tập Chú (pdf)

 

Bồ Tát Học Xứ

Kelsang Gyatso soạn
Thích Pháp Chánh dịch


Chủ đề của quyển sách này là Bồ tát giới. Trong tiếng Phạn (Sanskrit), chữ Bồ tát (Bodhisattva) là chỉ cho những hành giả, do tâm đại bi kích động, phát khởi tâm bồ đề, nghĩa là phát nguyện thành Phật để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Do vì trong tâm mỗi người đều có hạt giống đại bi và tâm bồ đề, và do vì mỗi người đều có cơ hội gặp được một bậc thầy Đại thừa, cho nên mỗi người đều có thể trở thành một hành giả tu tập Bồ tát hạnh trong giáo nghĩa Đại thừa.

Bồ tát giới là giới luật cao cấp, và là con đường chính dẫn dắt hành giả đạt đến hỷ lạc tuyệt diệu của sự giác ngộ Vô thượng. Nói tóm, [tu tập] giới luật là một sự quyết tâm xả bỏ tất cả những hành vi bất thiện. Chẳng hạn như thấy được họa hoạn của sự giết hại, trộm cướp, hoặc tà dâm, chúng ta bèn khởi lên một quyết định cứng rắn ngăn ngừa những hành động đó, đây là giới luật (moral discipline). Tương tự, quyết định ngăn ngừa sự nói dối, nói đâm thọc, nói thô ác, nói vô ích, tham lam, sân hận và tà kiến cũng là giới luật....

Bồ Tát Học Xứ (pdf)

 

Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa

Bồ tát Vô Trước tạo
Pháp sư Huyền Tráng dịch Hán văn
Thích Pháp Chánh dịch Việt văn

Đại thi la tạng của Bồ tát có thể khiến trong vị lai sinh khởi quả vị Đại bồ đề. Nghĩa là Bồ tát nương vào đây, sau khi thành tựu viên mãn Bồ tát tịnh giới ba la mật đa, sẽ hiện chứng Vô thượng chánh đẳng bồ đề. Nương vào vô lượng Bồ tát giới tạng này mà siêng năng tu tập, thường có thể đạt được năm loại lợi ích: (1) thường được mười phương chư Phật hộ niệm; (2) lúc sắp chết, an trụ trong đại hoan hỷ; (3) sau khi xả thân, thọ sanh vào bất cứ nơi nào, thường gặp được các vị Bồ tát tu tập tịnh giới, hoặc bằng hoặc hơn mình để cùng nhau làm pháp lữ (Hán: đồng phận), làm thiện tri thức; (4) thành tựu vô lượng đại công đức tạng, có thể viên mãn tịnh giới ba la mật đa; (5) trong hiện tại, hoặc trong vị lai, thường được thành tựu tự tánh tịnh giới, giới trở thành bổn tánh. 

Ba tụ tịnh giới của Bồ tát, nói tóm lược, là ba công hạnh của Bồ tát, nghĩa là nhiếp luật nghi giới khiến tâm an trụ, nhiếp thiện pháp giới giúp Bồ tát tự thành tựu Phật pháp, và nhiếp hữu tình giới giúp Bồ tát thành tựu hữu tình. Như vậy, tổng nhiếp tất cả các sự việc mà Bồ tát phải nên làm, nghĩa là muốn cho hành giả an trú trong hiện pháp, khiến tâm an trụ, thành thục Phật pháp, thành thục hữu tình.

Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa (pdf)