VÃNG SINH TỊNH ĐỘ LUẬN GIẢNG KÝ

Đại Sư Án Thuận giảng
Thích Nhất Chân dịch

 

Mục Lục

  1. Lời Tựa

  2. Chánh Văn

  3. Huyền Luận

  4. Chánh Thích 

LỜI TỰA



Tịnh Độ không phải chỉ là lý tưởng của Tịnh Độ tông, mà còn là khuôn mẫu lý tưởng chung cho mọi tông phái của Đại thừa Phật giáo nữa.

Người ngoài cũng như Phật tử nói chung, thường bị quan niệm thanh tịnh cá nhân (tức lý tưởng của Tiểu thừa) ám ảnh đến mức độ như tin chắc rằng Phật giáo chỉ là con đường để thanh tịnh cá nhân đến mức tuyệt đối hoàn hảo. Đại thừa bị nghi ngờ là hậu sinh và bị pha trộn đủ thứ lệch lạc trong đó. Thậm chí có người còn cho Đại thừa không phải là Phật giáo mà chỉ là một nỗ lực của ngoại đạo để phá hoại Phật giáo “nguyên thủy” chính thống. Lý do chẳng qua là vì Đại thừa hoàn toàn đượm mùi vị tôn giáo tập thể, phản ngược lại với chất vị cá nhân tuyệt đối trong sạch của Tiểu thừa “nguyên thủy”.

Một sự thẩm xét thấu đáo về Đại thừa sẽ cho thấy rằng những ám ảnh trên là hoàn toàn sai lầm. Lịch sử Phật giáo cũng chứng thật rõ ràng là Đại thừa không hề phá hoại Tiểu thừa, cũng không hề tiếp tay với ngoại đạo. Trước sau Đại thừa vẫn là Đại thừa và hoàn toàn là Phật giáo. Đại thừa cũng không hề xóa bỏ con đường thanh tịnh của cá nhân, trái lại sự thanh tịnh ấy, đối với Đại thừa, lại chính là chân lý tuyệt đối phổ biến khắp mọi nơi và mọi loài. Đại thừa có thể nói với Tiểu thừa rằng: “Chúng ta chẳng có gì khắc nhau, chẳng qua anh cá nhân và tôi tập thể mà thôi. Tất cả mọi nổ lực của tôi làm là để thành tựu sự thanh tịnh cho tất cả chúng sinh. Anh tôn thờ Phật như một cá nhân hoàn toàn thanh tịnh, tôi tôn thờ Phật như một Pháp thân thanh tịnh biến khắp không gian thời gian, mà mỗi vị Phật xuất hiện trong đời chỉ là một hiện thân cá nhân của pháp thân thanh tịnh ấy mà  thôi. Anh thực hiện sự thanh tịnh viên mãn để Niết Bàn hóa toàn thể hiện hữu của cá nhân anh, tôi thực hiện sự thanh tịnh viên mãn cho toàn thể chúng sinh để tịnh độ hóa toàn thể vũ trụ…”.

Tóm lại, theo Đại thừa, cái chân lý viên mãn mà đức Phật giác ngộ ra không phải Tiểu thừa mà cũng chẳng phải Đại thừa, không phải ngoại đạo cũng chẳng phải Phật giáo. Nó vốn cứu cánh thanh tịnh tuyệt đối dứt mọi ngôn ngữ và tư tưởng. Tuy thế nó lại là nền tảng duy nhất cho toàn thể mọi xu hướng hiện hữu, nó là nguồn năng lực sinh khởi bất tận cho mọi sự hữu được hiện hữu. Nó là tất cả, là toàn thể. Song không phải vì thế mà cái gì cũng là Phật giáo được. Cái tính chất “là tất cả” của chân lý này, Phật giáo không hề chịu chia xẻ chung với Ấn Độ giáo. Cái nguyên lý “là tất cả” này là nguyên lý của sự giác ngộ của đức Phật, chứ không phải là nguyên lý của một năng lực huyền bí bao trùm khắp vũ trụ, mà loài người cứ tha hồ võ đoán là thần lực hay Thượng Đế… nói cách khác cái nguyên lý “là tất cả” nầy đã được giác ngộ hóa cũng như thanh tịnh hoá, thế nên toàn thể vũ trụ, tất cả các pháp đều là giác ngộ, đều là thanh tịnh, đều là Phật pháp.

Do đó, tuy chân lý tuyệt đối phải là chân lý chung của mọi loài, mọi tôn giáo, song nếu nó chưa được giác ngộ hóa và thanh tịnh hóa, thì nó không có một tác dụng gì hơn là một giấc mộng “vũ trụ” biến diệt bất tận và vô nghĩa. Nó thật sự không đưa lại một một lối thoát, mà chỉ đưa lại một nguyên lý thần lực tuyệt đối áp đặt vào thân phận của muôn loài. Khi ấy Phật giáo từ chối nó như là chân lý tuyệt đối, mà chỉ coi đó là một nguồn lực vô minh bao trùm khắp mọi loài.

Như thế, với Đại thừa, vô minh và giác ngộ có chung một nguyên lý tuyệt đối. Song trong giới hạn của vô minh, nguyên lý tuyệt đối này là một thảm họa cho muôn loài. Một khi thoát vào thế giới giác ngộ, nguyên lý tuyệt đối sẽ thanh tịnh hóa và giải thoát cho tất cả mọi cõi mọi loài. Và chỉ với giác ngộ, nguyên lý tuyệt đối này mới được coi là chân lý. Do đó, nếu thiếu giác ngộ, (hay rõ hơn, nếu thiếu một vị Phật) sẽ không thể có chân lý tuyệt đối, không thể có Niết Bàn, an lạc, giải thoát chân thật, dù cái nguyên lý tuyệt đối của muôn loài vẫn luôn luôn có mặt ngay đây.

Vì vậy, một mặt chân lý của đạo Phật là chung cho tất cả chứ không riêng gì của Đại thừa, song mặt khác chỉ có xu hướng Đại thừa mới duy nhất hiển lộ ra được toàn thể chân lý chung hết cho mọi loài. Bởi vì có xu hướng Đại thừa mới lấy sự giác ngộ của đức Phật làm lý tưởng cứu cánh, con đường Đại thừa mới nuôi dưỡng và phát triển ánh sáng giác ngộ ấy đến mức viên mãn.

Mà đến mức viên mãn có nghĩa là đưa ánh sáng giác ngộ từ cá nhân sang thẩm nhập vào tất cả mọi hiện hữu đều trở nên hoàn toàn thanh tịnh trong ánh sáng giác ngộ. Khi ấy thế giới trở thành Tịnh Độ và cá nhân giác ngộ trở thành pháp thân thanh tịnh biến khắp không và thời gian. Đây là cảnh giới giác ngộ viên mãn và chân thật nhất của một vị Phật, và là khuôn mẫu lý tưởng của Đại thừa Phật giáo vậy.

Đại thừa trở thành một tôn giáo, bởi đối tượng của Đại thừa giờ đây là pháp thân thanh tịnh Phật, một thật thể siêu việt nhưng tích cực biến hiện cùng khắp theo nguyên tắc giác ngộ và tịnh hóa mọi loài. Đồng thời Đại thừa vẫn là con đường thành tựu thanh tịnh của cá nhân, bởi mỗi cá nhân tin tưởng đều có bổn phận phải thành tựu pháp thân thanh tịnh kia qua sự giác ngộ của mình để cứu độ tất cả chúng sinh.

Trong tiến trình thực hiện sự giác ngộ để thành tựu pháp thân, Tịnh Độ (và báo thân Phật) là một điều không thể thiếu sót được cho hành giả Đại thừa. Đó là huyết mạch giao thông giửa hành giả và thập phương chư Phật, qua đó hành giả thân chứng từ từ ra được pháp thân phổ biến vô cùng tận. Do đó sự thể nhập vào Tịnh Độ của Phật A Di Đà là một phương tiện tối cao, tối cần thiết, và không thể không có được cho một hành giả Đại thừa. Và sự thể nhập chỉ hoàn toàn đúng nghĩa khi hành giả trở thành một với Tịnh Độ, nghĩa là qua sự vãng sinh để trở thành một thành phần (một con dân) của Tịnh Độ. Sự vãng sinh để thể nhập này có thể được thực hiện được là bởi toàn thể vũ trụ đã  được quang minh trí tướng của A Di Đà Phật tịnh hóa đã mười kiếp nay rồi, song chúng ta vẫn cứ hóa hiện theo nguyên tắc của vô minh nên vẫn không hề hay biết, song như thế có nghĩa là chúng ta đã ở sẵn trong Tịnh Độ rồi, vấn đề chỉ còn là rũ bỏ tất cả mọi nghiệp lực vô minh của cá nhân qua sự chết và bằng lòng đón nhận Tịnh Độ qua niềm tin quyết liệt. Do đó thể nhập vào Tịnh Độ, niềm tin là căn bản tiên quyết. Hành giả Đại thừa cần phải có niềm tin tuyệt đối vào Tịnh Độ và buông bỏ hết mọi dính dấp với sáu cõi vô minh. Tịnh Độ trở thành một thật thể của hành giả, khi ấy trí huệ thể nhận ra pháp thân cùng đại nguyện cứu độ toàn thể chúng sinh sẽ được phát hiện và thành lập. Và con đường Bồ Tát đạo mở rộng ra trước hành giả…

Tịnh độ như thế là chung cho tất cả hành giả Đại thừa chứ không riêng gì của Tịnh Độ tông. Vãng Sinh Luận ở đây do Thế Thân (Vasubandhu) Bồ Tát tạo, và được giảng giải qua hai bậc Đại sư khả kính: Ấn Thuận Đại sư, một cao tăng hiện đại của Trung Hoa, và Đàm Loan Đại sư, một bậc cổ đức của triều đại nhà Tùy bên Trung Hoa. Thế Thân vốn là tổ của Duy Thức học; Ấn Thuận là một bậc bác học về tam tạng kinh điển, nhưng có thiên về tính Không học; Đàm Loan như khai tổ  của Tịnh Độ học vậy, bởi có lẽ trước ngài không ai khai triển hay đả động gì đến Tịnh Độ… Như thế đủ thấy mọi xu hướng của Đại thừa một khi đi sâu vào chân ý nghĩa của Đại thừa, ắt sẽ gặp nhau nơi Tịnh Độ.

Những sự hiểu lầm về Tịnh Độ cần phải được tẩy rửa đi, lòng tin vào Tịnh Độ cần phải được thành lập, trước khi chúng ta có thể đặt bước vào con đường Đại thừa Bồ Tát đạo.

 

--o0o--


GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ẤN THUẬN ĐẠI SƯ (1906 - 2005)

 

Ấn Thuận Đại sư người huyện Hải Ninh, tỉnh Triết Giang, sinh năm 1906.

Ngày 11 tháng mười năm 1930 (Dân Quốc 19) được lão hòa thượng Thanh Niệm trụ trì Phước Tuyền Am tại Phổ Đà Sơn thế độ cho, đặt pháp danh là Ấn Thuận, hiệu Thanh Chánh. (Việc xuất gia của Ấn Thuận là do sự đồng ý, chỉ thị của Dục Sơn Thượng Nhân, giới huynh của Thái Hư Đại sư).

Cuối tháng mười 1930 (Dân Quốc 19), đến Thiên Đồng Tự thọ giới. Giới Hòa thượng (Hòa thượng đàn đầu) là Viên Anh Lão Pháp sư.

Tháng 2, 1931 (Dân Quốc 20, ngài 26 tuổi) được sự đồng ý của tiên sư, Ấn Thuận đến Mân Nam Phật học viện, chùa Nam Phổ Đà ở Hạ Môn cầu pháp. Vào học lớp sơ cấp, mùa hạ chưa hết lại bị bệnh. Từ đó không khôi phục tinh thần lại được bình thường, cơ thể suy yếu nhiều.

Đầu tháng tám, đại diện cho viện trưởng Đại Tỉnh Pháp sư phái đến Dũng Tuyền Phật học viện ở Cổ sơn dạy học.

Năm 1932 (Dân Quốc 21, ngài 27 tuổi), đầu học kỳ, Đại Tỉnh Pháp sư yêu cầu Ấn Thuận dạy lại chính lớp mà khi trước ngài (Ấn Thuận) vào học.

Được ít lâu, Ấn Thuận bèn tự nghĩ: Mình phát tâm xuất gia vì cầu pháp. Học chưa đầy bốn tháng lại ở chính nơi đây làm giảng sư, thật chẳng biết tàm quý. Ở đây không thể đạt được nguyện vọng cầu pháp của mình, mình phải tự tìm cầu. Nghĩ thế, Ngài bèn biên thư về Phước Tuyền Am nhờ biên thư kêu ngài trở về  gấp vì lý do khẩn.

Mùa hạ 1932 (27 tuổi), đến chùa Huệ Tế - núi Phật Đỉnh, ở Lầu Kinh đọc Đại Tạng. Ở đây được một năm rưỡi để đọc chương sớ của Tam Luận Tông.

Tháng một 1934 (29 tuổi) lại đến Vũ Xương Phật học viện, tại đây lần đầu tiên được lễ kiến Thái Hư Đại Sư. Sau đó đi Nam Kinh, đến thăm Cổ đạo tràng của Tam Luận Tông. Trở lại Vũ Xương ở đấy nửa năm, đọc xong chương sớ của Tam Luận Tông, và sau đó trở lại núi Phật Đỉnh.

Khoảng tháng 6, 7 nhận thư của Thái Hư Đại Sư và Thường Tinh Pháp Sư, viện trưởng đại học Mân Nam mời ngài đến Hạ Môn (Mân Nam Phật học viện).

Đến Hạ Môn được nửa năm (1/1935, 30 tuổi), trở lại Thượng Hải, sau đó về Lầu Kinh ở núi Phật Đỉnh, duyệt tạng kinh đến mùa thu năm 1936 (Dân Quốc 25, 31 tuổi)  đọc xong Đại tạng.

Ấn Thuận Đại sư là một trong những hiện tại danh tăng lỗi lạc nhất hiện cư ngụ tại Đài Loan (Đài Trung). Tuy niên lạp đã cao nhưng ngài vẫn ngày đêm nghiên cứu thêm về Phật pháp, viết rất nhiều tác phẩm Phật giáo.

Ngoài những tác phẩm lẻ mà sau này được kết lại thành bộ Diệu Vân Tập, còn được biết thêm những tác phẩm của ngài như:

1/ Nguyên Thủy Thánh điển chi tập thành,

2/ Đại thừa sơ kỳ Phật giáo, khởi nguyên dữ khai triển,

3/ Như lai tạng chi nguyên cứu v.v…

 
(Theo "Hoa Vũ Hương Vân” của Ấn Thuận).

--o0o--

 

CHÍNH VĂN

 

Thế Tôn, con một lòng
quy mạng tận thập phương
Vô Ngại Quang Như Lai,
nguyện sinh nước An Lạc.
Con y Tu Đa La,
tướng công đức chân thật
nói nguyện kệ tổng trì,
cùng Phật giáo tương ưng.
Quán tướng thế giới kia,
hơn hẳn đường ba cõi.
Cứu cánh tựa hư không
rộng lớn không bờ bến.
Chính đạo đại từ bi,
thiện căn xuất thế sinh.
Quang minh sạch đầy đủ
như gương vành nhật nguyệt.
Đủ tính chất trân bảo,
gồm hết diệu trang nghiêm
Quang vô cấu rực rỡ
sáng sạch rọi thế gian
Cỏ công đức bằng báu
mềm mại chuyển trái phải,
chạm vào sinh thắng lạc
hơn Ca Chiên Lân Đà.
Hoa báu ngàn vạn loại
che khắp suối ao hồ,
gió thoảng lay hoa lá
quang giao thoa loạn chuyển.
Cung điện cùng lầu gác
thấy không ngại mười phương,
cây tạp đủ quang sắc,
lan can báu giáp vòng.
Vô lượng báu giao nhau
hư không tràn lưới võng,
Đủ loại linh vang hưởng
ngân nga âm diệu pháp.
Mưa hoa, y trang nghiêm
vô lượng hương huân khắp.
Mặt trời Phật huệ sáng
Sạch trừ thế ám si.
Phạm thanh nói vang xa (1)
Vi diệu vọng mười phương.
A Di Đà chính giác
Pháp vương khéo giữ trì.
Như Lai tịnh hoa chúng
Hóa sinh hoa chính giác.
Yêu thích Phật pháp vị
Thiền tam muội món ăn.
Dứt lìa thân tâm não
Thường thọ lạc không ngưng.
Đại thừa thiện căn giới,
bằng, không danh xấu xa:
người nữ và  căn khuyết,
giống nhị thừa chẳng sinh
Chúng sinh bao ước muốn,
tất cả đều đầy đủ.
Nên con nguyện vãng sinh (2)
nước Phật A Di Đà (3).
Vô lượng vua báu lớn,
đài hoa sạch vi diệu.
Tướng đẹp rạng một tầm,
sắc tượng vượt quần sinh.
Như Lai tiếng vi diệu,
âm phạm vọng mười phương.
Đồng đất, nước, lửa, gió,
hư không, không phân biệt.
Chúng trời, người bất động,
biển trí thanh tịnh sinh.
Như Tu Di núi chúa
thắng diệu không gì hơn.
Trời, người, trượng phu chúng,
chiêm ngưỡng kính vây quanh.
Quán Phật bổn nguyện lực
Gặp không uổng qua không,
khiến được mau đầy đủ
Biển lớn công đức báu.
Nước An Lạc thanh tịnh
thường chuyển vô cấu luân,
hóa Phật, Bồ Tát nhật,
như Tu Di trụ trì.
Vô cấu quang trang nghiêm,
mỗi niệm và mỗi thời,
chiếu khắp các Phật hội,
lợi ích các quần sinh.
Nào mưa nhạc trời, hoa,
y, diệu hương… cúng dường,
khen công đức chư Phật,
không có phân biệt tâm.
Những thế giới nào không
Phật, Pháp, công đức bảo,
con đều nguyện vãng sinh
hiển Phật, Pháp như Phật.
Con làm luận nói kệ
Nguyện gặp Phật Di Đà
Cùng khắp các chúng sinh
Sinh về An Lạc quốc.

Các câu cú thuộc Tu Đa La (về) Vô Lượng Thọ, con đã dùng kệ tụng (để) nói tổng quát xong.

Luận rằng: các kệ này (muốn) nói lên nghĩa gì? Vì (muốn) quán thế giới An Lạc, (muốn) gặp Phật A Di Đà, (muốn) nguyện sinh (về cõi) nước kia (4).

Làm sao quán? Làm sao sinh tín tâm? Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, người nào tu “năm niệm môn” (5) thành tựu, rốt cuộc sẽ được sinh về nước An Lạc, gặp Phật A Di Đà kia.

Những gì là “năm niệm môn”? Một là lễ bái môn, hai là tán thán môn, ba là tác nguyện môn, bốn là quán sát môn, năm là hồi hướng môn.

Thế nào là lễ bái? Thân nghiệp lễ bái A Di Đà Như Lai Ứng Cúng (6) Chính Biến Tri, do vì ý muốn sinh về nước kia.

Thế nào là tán thán (7)? Xưng danh của Như Lai kia, (đúng) như trí tướng quang minh của Như Lai kia, (đúng) như danh (và) nghĩa kia, vì muốn như thật tu hành (cho được) tương ưng.

Thế nào là tác nguyện? Tâm thường tác nguyện: một lòng chuyên niệm rốt cuộc (sẽ) vãng sinh về nước An Lạc, bởi muốn như thật tu hành Sa ma tha vậy.

Thế nào là quán sát? (Dùng) trí tuệ quán sát, chính niệm quán (nước) kia, bởi muốn như thật tu hành Tỳ bà xá na vậy.

Quán sát (cõi nước) kia có ba loại. Những gì là ba loại? Một là quán sát (sự) trang nghiêm (do) công đức của cõi nước Phật kia. Hai là quán sát (sự) trang nghiêm (do) công đức của Phật A Di Đà. Ba là quán sát (sự) trang nghiêm (do) công đức của các Bồ Tát (8).

Thế nào là hồi hướng? Không bỏ tất cả các chúng sinh khổ não, tâm thường tác nguyện, hồi hướng làm đầu, do (để) thành tựu đại bi vậy (9).

Thế nào là quán sát (sự) trang nghiêm (do) công đức của cõi nước Phật kia (10)? Do thành tựu (năng) lực không thể suy lường, do y như tính (chất) của báu Ma Ni Như Ý, (vốn là) tương tợ tương đối pháp.

Quán sát (sự) trang nghiêm (do) công đức của cõi nước của Phật kia (11) gồm có 17 sự cần phải biết. Thế nào là 17? 

- một là (sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh (12),
- hai là (sự) thành tựu (của) công đức (về) lượng,
- ba là (sự) thành tựu (của) công đức (về) tính,
- bốn là (sự) thành tựu (của) công đức (về) hình tướng,
- năm là (sự) thành tựu (của) công đức (về) đủ loại sự,
- sáu là (sự) thành tựu (của) công đức (về) diệu sắc,
- bảy là (sự) thành tựu (của) công đức (về) xúc,
- tám là (sự) thành tựu (của) công đức (về) trang nghiêm (13),
- chín là (sự) thành tựu (của) công đức (về) mưa,
- mười là (sự) thành tựu (của) công đức (về) quang minh,
- mười một là (sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh,
- mười hai là (sự) thành tựu (của) công đức (về) chủ,
- mười ba là (sự) thành tựu (của) công đức (về) quyến thuộc,
- mười bốn là (sự) thành tựu (của) công đức (về) thọ dụng,
- mười lăm là (sự) thành tựu (của) công đức (về) không có các nạn,
- mười sáu là (sự) thành tựu (của) công đức (về) đại nghĩa môn,
- mười bảy là (sự) thành tựu (của) công đức (về) tất cả các sở cầu (14).

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh là do kệ rằng: “Quán tướng thế giới kia, hơn hẳn đường ba cõi”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) lượng là do kệ rằng: “Cứu cánh tựa hư không, rộng lớn không bờ bến”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) tính là do kệ rằng: “Chính đạo đại từ bi, thiện căn xuất thế sinh”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) hình tướng là do kệ rằng: “Quang minh sạch đầy đủ, như gương vành nhật nguyệt”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) đủ loại sự là do kệ rằng: “Đủ tính chất trân bảo, gồm hết diệu trang nghiêm”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) diệu sắc là do kệ rằng: “Quang vô cấu rực rỡ, sáng sạch rọi thế gian”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) xúc là do kệ rằng: “Cỏ công đức bằng báu, mềm mại chuyển trái phải, chạm vào sinh thắng lạc, hơn ca chiên lân đà”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) trang nghiêm gồm có ba loại cần phải biết. Những gì là ba? Một là nước, hai là đất, ba là hư không.

Trang nghiêm (về) nước là do kệ rằng: “Hoa báu ngàn vạn loại, che khắp suối ao hồ, gió thoảng lay hoa lá, quang giao thoa loạn chuyển”.

Trang nghiêm (về) đất là kệ rằng: “Cung điện cùng lầu gác, thấy không ngại mười phương, cây tạp đủ quang sắc, lan can báu giáp vòng”.

Trang nghiêm (về) hư không là do kệ rằng: “Vô lượng báu giao nhau, hư không tràn lưới võng, đủ loại linh quang hưởng, ngân nga âm điệu pháp”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) mưa là do kệ rằng: “Mưa hoa, y, trang nghiêm, vô lượng hương huân khắp”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) quang minh là do kệ rằng: “Mặt trời Phật huệ sáng, sạch trừ thế ám si”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) diệu thanh là do kệ rằng: “Phạm thanh nói vang xa, vi diệu vọng mười phương”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) chủ là do kệ rằng: “A Di Đà chính giác, Pháp Vương khép trụ trì”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) quyến thuộc là do kệ rằng: “Như Lai tịnh hoa chúng, hóa sinh hoa chính giác”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) thọ dụng là do kệ rằng: “Yêu thích Phật pháp vị, thiền tam muội món ăn”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) không có các (tai) nạn là do kệ rằng: “Lìa xa thân tâm não, thường thọ lạc không ngưng”.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) đại nghĩa môn là do kệ rằng: “Đại thừa thiện căn giới, bằng, không danh xấu xa, người nữ và căn khuyết, giống nhị thừa không sinh”. Quả báo Tịnh Độ lìa hai loại lỗi xấu xa (15) cần phải biết: một là thể, hai là danh. Thể có ba loại: một là người nhị thừa, hai là người nữ, ba là người không đầy đủ các căn. Không ba lỗi lầm ấy, gọi là lìa (sự) xấu xa (về) thể”. Danh cũng gồm ba loại: là do không những không có ba thể, mà cho đến còn không nghe đến tên của ba loại nhị thừa, người nữ và không đủ các căn (kia), nên gọi là “lìa (sự) xấu xa (về) danh”. Bằng là do bằng nhau một tướng.

(Sự) thành tựu (của) công đức (về) tất cả các cầu mong (16) là do kệ rằng: “ Chúng sinh bao ước muốn, tất cả đều đầy đủ”.

Lược nói (xong) về 17 loại công đức (dùng) trang nghiêm cõi nước của Phật A Di Đà (17) kia do hiện bày (ra) sự thành tựu của lực đại công đức lợi ích (cho) tự thân của Như Lai và sự thành tựu của công đức lợi ích (cho) người khác. Sự trang nghiêm cõi của Phật Vô Lượng Thọ kia (là) cảnh giới (vi) diệu (thuộc) đệ nhất nghĩa đế (18). Mười sáu câu và một câu tuần tự nói (ra), cần phải biết.

Thế nào là quán (sự) thành tựu (về) trang nghiêm (do) công đức (thuộc về) Phật (19)? Quán (sự) thành tựu trang nghiêm công đức (thuộc về) Phật gồm có tám loại cần biết. Những gì là tám loại? Một là trang nghiêm tòa, hai là trang nghiêm thân, ba là trang nghiêm khẩu, bốn là trang nghiêm tâm, năm là trang nghiêm chúng, sáu là trang nghiêm thượng thủ, bảy là trang nghiêm chủ, tám là trang nghiêm không uổng làm trụ trì (20).

Gì là trang nghiêm tòa? Là do kệ rằng: “Vô lượng vua báu lớn, đài hoa sạch vi diệu”.

Gì là trang nghiêm thân? Là do kệ rằng: “Tướng đẹp rạng một tầm, sắc tượng vượt quần sinh”.

Gì là trang nghiêm khẩu? Là do kệ rằng: “Như Lai tiếng vi diệu, âm phạm vọng mười phương”.

Gì là trang nghiêm tâm? Là do kệ rằng: “Đồng đất, nước, lửa, gió, hư không, không phân biệt”. Không phân biệt là không có tâm phân biệt vậy.

Gì là trang nghiêm chúng? Là do kệ rằng: “Chúng trời, người, bất động, biển trí thanh tịnh sinh”.

Gì là trang nghiêm thượng thủ? Là do kệ rằng: “Như Tu Di núi chúa, thắng diệu không gì hơn”.

Gì là trang nghiêm chủ? Là do kệ rằng: “ Trời, người, trượng phu chúng, chiêm ngưỡng kính vây quanh”.

Gì là trang nghiêm không uổng làm trụ trì? Là do kệ rằng: “Quán Phật bổn nguyện lực, gặp không uổng qua không, khiến được mau đầy đủ, biển lớn công đức báu:”.

Nghĩa là do gặp Phật kia, Bồ Tát chưa chứng tịnh tâm, rốt cuộc sẽ đắc pháp thân bình đẳng, cùng với Bồ Tát tịnh tâm không khác; (còn) Bồ Tát tịnh tâm (sẽ) cùng với các Bồ Tát thượng địa, rốt cuộc được tịch diệt bình đẳng (21).

Lược nói tám câu, thị hiện sự thành tựu tuần tự (về các sự) trang nghiêm (do) công đức, (nhằm) lợi mình lợi người của Như Lai (22), cần phải biết.

Thế nào là quán (sự) trang nghiêm (do) công đức (thuộc về) Bồ Tát (23)? Quán (sự) trang nghiêm công đức (thuộc về) Bồ Tát là quán các Bồ Tát kia có bốn loại thành tựu (của) công đức (chân) chính tu hành, cần phải biết.

Những gì là bốn? Một là nơi cõi Phật, thân không động đậy mà (đến) khắp mười phương, (làm) đủ loại ứng hóa, (đúng) như thật (mà) tu hành, thường làm các Phật sự. Do kệ rằng: “Nước An lạc thanh tịnh, thường chuyển vô cấu luân, hóa Phật, Bồ Tát nhật, như Tu Di trụ trì”. Vì để khai (mở) đóa hoa (trong) bùn lầy của chúng sinh vậy.

Hai là do thân ứng hóa kia (trong) mọi thời, không trước không sau, mỗi tâm mỗi niệm phóng ánh sáng lớn, đều có thể đến khắp các thế giới trong mười phương, (để) giáo hóa chúng sinh, (bằng) đủ phương tiện, (do) tu hành tạo nên, trừ diệt khổ cho tất cả chúng sinh. Do kệ rằng: “Vô cấu quang trang nghiêm, mỗi niệm và mỗi thời, chiếu khắp các Phật hội, lợi ích các quần sinh”.

Ba là (các hóa thân Bồ Tát) kia trong tất cả các thế giới không sót (một thế giới nào), chiếu các đại chúng của các Phật hội không sót (một đại chúng nào) (24), (một cách) rộng lớn vô lượng cúng dường, cung kính, tán thán chư Phật Như Lai. Do kệ rằng: “Nào mưa nhạc trời, hoa, y, diệu hương… cúng dường, khen các công đức Phật, không có phân biệt tâm”.

Bốn là (Bồ Tát hóa thân) kia ở nơi tất cả thế giới khắp mười phương, các chỗ nào (không có) biển công đức lớn Phật, Pháp, Tăng (Tam) Bảo trụ trì trang nghiêm, (thì sẽ) hiển bày đến khắp (các nơi đó) khiến (họ) hiểu biết, và như thật mà tu hành. Do kệ rằng: “Những thế giới nào không, Phật, pháp, công đức bảo, con đều nguyện vãng sinh, hiển Phật, pháp như Phật”.

Lại (cho) đến đây (là đã) nói về sự thành tựu trang nghiêm công đức của cõi nước, sự thành tựu trang nghiêm công đức của Phật, sự thành tựu trang nghiêm công đức của Bồ Tát. Ba loại trang nghiêm (do) nguyện tâm thành tựu này (là) do nói tóm nhập vào một câu pháp (25). Một câu pháp là nói cho câu thanh tịnh. Câu thanh tịnh là vì nói cho pháp thân vô vi chân thật trí huệ.

Thanh tịnh nay có hai thứ cần phải biết, những gì là hai? Một là thanh tịnh (thuộc) khí thế gian, hai là thanh tịnh (thuộc) chúng thế gian. Thanh tịnh (thuộc) khí thế gian là (như) trước đã nói (về) 17 loại thành tựu trang nghiêm công đức cõi nước Phật (26), đó gọi là thanh tịnh (thuộc) khí thế gian. Thanh tịnh (thuộc) chúng sinh thế gian, như tám loại thành tựu trang nghiêm công đức (về) Phật và bốn loại thành tựu trang nghiêm công đức (về) Bồ Tát (27) đã nói trên, đó gọi là thanh tịnh (thuộc) chúng sinh thế gian. Một câu pháp như thế nhiếp hai loại thanh tịnh (28) cần phải biết.

Bồ Tát như thế (một cách) rộng rãi và tóm lược (mà) tu hành Sa ma tha và Tỳ bà xá na, (nhờ đó) thành tựu tâm mềm mại, (và) biết (đúng) như (sự) thật (về) các pháp (một cách) rộng rãi và tóm lược, (và) như thế (là) thành tựu sự hồi hướng (bằng) phương tiện (29).

Gì là hồi hướng (bằng) phương tiện khéo của Bồ Tát? Hồi hướng (bằng) phương tiện khéo của Bồ Tát là nói về tất cả các thiện căn công đức do tu hành năm môn lễ bái này nọ… tích tập lại (song) không cầu sự an lạc giữ chắc nơi thân mình, (mà vì) muốn nhổ hết khổ cho chúng sinh, (nên) lập nguyện gom hết tất cả chúng sinh cùng nhau sinh về nước Phật an lạc kia, đó gọi là sự thành tựu hồi hướng (bằng) phương tiện khéo.

Bồ Tát như thế biết rõ (cách) thành tựu hồi hướng, (sẽ) lìa xa (30) ba loại pháp tương vi với môn Bồ Đề. Những gì là ba? Do một là y theo môn trí huệ, không cầu (lợi) lạc cho riêng mình, lìa xa (cái) tâm (chấp) tôi (chuyên) tham đắm (cho) thân mình. Do hai là môn từ bi, (muốn) nhổ hết khổ cho tất cả chúng sinh, lìa xa (cái) tâm không (đem lại) an (lạc) cho chúng sinh. Do ba là y theo môn phương tiện, (là) tâm thương tưởng tất cả chúng sinh, lìa xa tâm (chỉ lo) cung kính cúng dường (cho) thân mình. Đó gọi là lìa xa ba loại pháp tương vi với môn Bồ Đề.

Do Bồ Tát lìa xa ba loại pháp tương vi với môn Bồ Đề như thế thì sẽ được đầy đủ ba loại pháp tùy thuận với môn Bồ Đề. Những gì là ba? Một là tâm thanh tịnh vô nhiễm, do không riêng thân mình mà cầu các (lợi) lạc. Hai là tâm thanh tịnh an, nhổ hết khổ cho tất cả chúng sinh. Ba là tâm thanh tịnh lạc, do khiến cho tất cả chúng sinh được đại Bồ Đề, do gom trọn chúng sinh sinh về cõi nước kia. Đó gọi là trọn đủ ba loại pháp tùy thuận với môn Bồ Đề, cần phải biết.

Ba thứ môn trí huệ, từ bi và phương tiện vừa nói trên, gom lấy Bát Nhã, Bát Nhã (lại) gom lấy phương tiện, cần phải biết.

Trên đã nói lìa xa tâm (chấp) tôi không tham đắm thân mình, lìa xa tâm không (đem lại) an (lạc) cho chúng sinh, lìa xa tâm (cầu) cung kính cúng dường (cho) riêng thân mình, ba loại pháp này (là) lìa xa tâm chướng (ngại cho) Bồ Đề, cần phải biết.

Trên đã nói về tâm thanh tịnh vô nhiễm, tâm thanh tịnh an, tâm thanh tịnh lạc, ba loại tâm này tóm lược lại một chỗ, (là) thành tựu tâm diệu lạc thắng chân, cần phải biết.

Như vậy Bồ Tát (do) tâm trí huệ, tâm phương tiện, tâm không chướng, tâm thắng chân, (nên) có thể sinh vào cõi nước thanh tịnh của Phật, cần phải biết.

Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát tùy thuận năm loại pháp môn, những gì phải làm (được) tùy ý, tự tại (mà) thành tựu. Như những gì đã nói ở trên là về thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, trí nghiệp, phương tiện trí nghiệp, tùy thuận pháp môn.

Lại có năm loại (pháp) môn, tuần tự từ từ thành tựu năm loại công đức cần phải biết. Gì là năm môn? Một là môn gần, hai là môn đại hội chúng, ba là môn nhà, bốn là môn phòng, năm là môn chốn vườn rừng rong chơi. Năm loại môn này, thì bốn loại môn đầu thành tựu công đức vào, môn thừ năm thành tựu công đức ra.

Vào môn thứ nhất là do lấy lễ bái A Di Đà Phật để sinh (về) cõi nước kia, (nên) được sinh (vào) thế giới An Lạc, đó gọi là vào môn thứ nhất.

Vào môn thứ hai là do ca ngợi Phật A Di Đà, tùy theo danh (và) nghĩa (mà) xưng danh Như Lai, y theo (quán) tưởng (về) ánh sáng (31) (của) Như Lai (mà) tu hành, (nên) được vào (trong) số chúng (của) đại hội, đó gọi là vào môn thứ hai.

Vào môn thứ ba là do một lòng chuyên niệm lập nguyện sinh (cõi nước) kia (để) tu hành tam muội tịch tĩnh Sa ma tha (nên) được vào trong thế giới Hoa Tạng, đó gọi là vào môn thứ ba.

Vào môn thứ tư là do chuyên niệm quán sát sự trang nghiêm (vi) diệu của (cõi) kia (để) tu Tỳ bà xá na. (Nên) được đến chốn kia, thọ dụng đầy đủ loại (an) lạc pháp vị, đó gọi là môn thứ tư.

Ra môn thứ năm là do đại từ bi, quán sát tất cả chúng sinh khổ não, thị hiện ứng hóa thân, vào trở lại trong vườn sinh tử rừng phiền não, (như) thần thông rong chơi, đến vùng đất giáo hóa, do bổn lực hồi hướng vậy, đó là ra môn thứ năm.

Bốn loại môn vào cửa Bồ Tát (là) sự thành tựu của hạnh lợi mình cần phải biết. Môn thừ năm ra của Bồ Tát (là) sự thành tựu hồi hướng lợi ích người. Do Bồ Tát tu hạnh của năm môn như vậy, lợi mình lợi người, mau được thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

 

CHÚ THÍCH

 

1/ Theo bản Đông Doanh có hơi khác: “Phạm thanh ngộ sâu xa”. Hán văn theo bản Đại Chính Tạng là Phạm thanh ngữ thâm viễn. Và theo bản Đông Doanh là Phạm thanh ngộ thâm viễn.

2/ Hán văn theo bản Đại Chính Tạng là cố ngã nguyện vãng sinh nghĩa là “nên con nguyện vãng sinh”; trong khi bản Đông Doanh đọc là thị cố nguyện vãng sinh, nghĩa là “cho nên nguyện vãng sinh”.

3/ Hai câu này Ấn Thuận không đưa ra trong phần giảng giải của ngài.

4/ Bản Đông Doanh đọc khác, như sau: “Do thị hiện quán thế giới An Lạc Kia, gặp Phật A Di Đà, nguyện sinh nước kia”. Hán văn: Thị hiện quán bỉ An Lạc thế giới, kiến A Di Đà Phật, nguyện sinh bỉ quốc cố.

5/ Bản Đông Doanh đọc là “tu hạnh” năm niệm môn “thành tựu”. Hán văn: Tu ngũ niệm môn hạnh thành tựu.

6/ Bản Đông Doanh không có chữ cúng.

7/ Ở đây sau câu hỏi: “Thế nào là tán thán?”, bản Đông Doanh có thêm câu “khẩu nghiệp tán thán”, rồi mới đọc tiếp “xưng danh của Như Lai kia…”.

8/ Về ba loại “trang nghiêm (do) công đức” này, bản Đông Doanh đọc ngược thành “công đức trang nghiêm”. Như bản Đại Chính Tạng ở đây đọc là (hán văn:) Quán sát bỉ Phật quốc độ công đức trang nghiêm, (việt dịch là: “quán sát sự trang nghiêm (do) công đức (mà nên) của cõi nước của Phật kia”), thì bản Đông Doanh đọc là (hán văn:) quán sát bỉ Phật quốc độ trang nghiêm công đức, (Việt dịch là: “quán sát các công đức trang nghiêm của cõi nước của Phật kia”).

9/ Câu “do thành tựu đại bi tâm vậy”, bản Đông Doanh có thêm chữ đắc đứng đầu, đọc thành: “do được thành tựu tâm đại bi vậy”.

10/ Bản đông doanh đọc là “Thế nào là quán sát công đức trang nghiêm của cõi nước của Phật kia? Công đức trang nghiêm của cõi nước của Phật kia là…”

11/ Bản Đông Doanh đọc là: “Quán sát (sự) thành tựu của công đức trang nghiêm của cõi nước của Phật kia gồm…”

12/ Đông Doanh đọc 17 “sự thành tựu công  đức” này đều có thêm chữ trang nghiêm sau cùng. Thí dụ: “(sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh” ở đây sẽ đọc là: “(sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh trang nghiêm”.16 sự kia chiếu lệ theo đây mà đọc.

13/ Đông Doanh có thêm hai chữ “ba sự” và đọc thành “sự thành tựu (của) công đức (về) ba sự trang nghiêm”.

14/ Đông Doanh có thêm hai chữ “đầy đủ”, đọc thành “(sự) thành tựu (của) công đức (về) đầy đủ tất cả các sở cầu trang nghiêm. Phần 17 thành tựu công đức dưới đây với các câu kệ tụng, sự khác biệt của bản Đông Doanh, xin chiếu theo các chú thích trên mà chuẩn định.

15/ “Xấu xa” hán ngữ là cơ hiềm, đúng nghĩa là bị chỉ trích và chê bai.

16/ Đại chính bản đến đây cho thêm hai chữ “đầy đủ” vào, nhưng lại đọc thành “(Sự) thành tựu đầy đủ (của) công đức (về) tất cả các cầu mong”. (Hán văn:  Nhất thiết sở cầu công đức mãn túc thành tựu), thay vì đọc như Đông Doanh: “(Sự) thành tựu (của) công đức (về) đầy đủ tất cả các cầu mong trang nghiêm” (Hán văn: Nhất thiết sở cầu mãn túc công đức thành tựu trang nghiêm). Đọc như bản Đông Doanh rõ ràng và có nghĩa hơn.

17/ Đông Doanh đọc câu này như sau: “Lược nói (xong) 17 thành tựu (của) công đức (để) trang nghiêm cõi nước của Phật A Di Đà kia”.

18/ Đông Doanh đọc câu này là “Sự trang nghiêm cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ kia (là) tướng cảnh giới (vi) diệu (thuộc) đệ nhất nghĩa đế”.

19/ Đông doanh đọc là “Thế nào là quán (sự) thành tựu (của) công đức (để) trang nghiêm (thuộc về) Phật?”

20/ Tám thứ trang nghiêm này, Đông Doanh đều có bốn chữ “thành tựu công đức” và ba thứ thân, khẩu, tâm, đều có thêm chữ “nghiệp”. Cách sắp đặt chữ cũng trước sau có khác. Đại khái đọc thành: một là “(sự) thành tựu (của) công đức về tòa trang nghiêm”, hai là “(sự) thành tựu (của) công đức (về) nghiệp thân trang nghiêm”, ba là “(sự) thành tựu (của) công đức (về) nghiệp khẩu trang nghiêm”, bốn là “(sự) thành tựu (của) công đức (về) nghiệp tâm trang nghiêm”. Bốn thứ còn lại chuẩn theo trang nghiêm thứ nhất mà đọc.

21/ Bản Đông Doanh không có các chữ “… không khác, (còn) Bồ Tát tịnh tâm…” nên đọc thành “Bồ Tát chưa chứng tịnh tâm, rốt cuộc sẽ đắc pháp thân bình đẳng. Cùng với Bồ Tát tịnh tâm,… cùng với các Bồ Tát thượng địa, rốt cuộc đồng được tịch diệt bình đẳng”.

22/ Ấn Thuận phân câu có khác, xin xem trong phần giảng ký.

23/ Đông Doanh đọc là: “Thế nào là quán sát (sự) thành tựu (của) công đức (để) trang nghiêm (thuộc về) Bồ Tát?”

24/ Đông Doanh chấm câu đoạn này có khác, đọc thành như sau: “(các hóa thân Bồ Tát) kia trong tất cả thế giới, chiếu không sót (một) đại chúng (nào) trong các Phật hội; cúng dường, cung kính, tán thán rộng lớn vô lượng không sót (một) công đức (nào) của chư Phật Như Lai”.

25/ Đông Doanh đọc là: “Lại (cho) đến đây (là đã) nói về các quán sát sự thành tựu (của) công đức (về) cõi Phật trang nghiêm, sự thành tựu (của) công đức (về) Phật trang nghiêm, (và) sự thành tựu (của) công đức (về) Bồ Tát trang nghiêm. Ba loại trang nghiêm (do) nguyện tâm thành tựu này, cần phải biết. Do nói lược lại (gom) vào một câu pháp”.

26/ Đông Doanh đọc là: “17 loại thành tựu công đức cõi Phật trang nghiêm”.

27/ Bản Đông Doanh đọc hai chữ trang nghiêm ra sau cùng: “Thành tựu công đức (về) Phật trang nghiêm”, “thành tựu công đức (về) Bồ Tát trang nghiêm”.

28/ Đông Doanh có thêm chữ nghĩa, đọc là “… Nhiếp hai loại nghĩa thanh tịnh…”.

29/ Đông Doanh có thêm chữ khéo (hán văn: xảo) vào hai chữ phương tiện, đọc là “… hồi hướng (bằng) phương tiện khéo”.

30/ Đông Doanh thêm hai chữ tức năng, nghĩa là liền có thể, đọc thành “…liền có thể lìa xa…”.

31/ Đông Doanh đọc là: “y theo tướng ánh sáng (của) trí (của) Như Lai.

--0--

 

[Phần 1] [Phần 2]