CON ĐƯỜNG THÁNH TẨY
THEO MẬT TÔNG TÂY TẠNG


Nguyên tác: The Tantric Path of Purification by Lama Yeshe

Vô Huệ Nguyên trích dịch

 

MỤC LỤC

 

1. Thanh tẩy, con đường song song với thiền định
2.  Qui y
3.  Nội qui y và thiền định trong tính không
4.  Phần chính của phương pháp tu tập
5.  Sự thanh tẩy
6.  Kết thúc sự thực tập

 

Phần 1

THANH TẨY
CON ĐƯỜNG SONG SONG VỚI THIỀN ĐỊNH

 

Trong lễ điểm đạo, vị thầy thường kêu gọi những nguồn lực tâm linh, những nguồn đại lạc và trí tuệ trong vũ trụ, được thị hiện như những vị thần linh, trong trường hợp này là Heruka Vajrasattva (Ngài Kim Cang Tát Đỏa). Nguồn năng lực này kích động nguồn năng lực sẵn tiềm ẩn trong hệ thống thần kinh của người học trò, bây giờ được đánh thức dậy và bắt đầu rung động. Nếu học trò đã sẵn có một tâm từ bi và một tâm rỗng lặng, cùng tụng niệm những câu mật chú của Vajrasattva thì người học trò sẽ nhận lãnh và nuôi dưỡng được những rung động từ vị thầy. Rồi nếu, qua  thời gian tu tập, người học trò phát triển tâm thanh tịnh, xa lánh những dòng đời mờ tối, những lối sống không tỉnh thức, thì sự an lạc nội tâm sẽ từ từ khởi phát một cách tự nhiên.

Nhưng, một lời cảnh cáo cho những bậc thức giả, những người chỉ muốn nghiên cứu mật tông để thoả mãn trí thông minh, nếu qúy vị chỉ tự đọc những lời dạy bảo của mật tông mà không lãnh nhận một sự điểm đạo, quán đảnh nào thì sẽ chẳng được ích lợi gì. Chỉ khi nào qúy vị được hướng dẫn bởi một vị chân tu đầy kinh nghiệm tâm linh thì qúy vị mới có thể bước vào lãnh vực này mà không cần một sự thông minh, không cần một định thức suy tưởng nào, để hòa nhập vào con đường chân hạnh phúc, con đường an nhiên tự tại. Tôi không muốn huyền bí hóa hay độc đoán trong vấn đề này, nói một cách rất thành thực là nếu qúy vị nghĩ như thế nào thì qúy vị chỉ có thể hiểu được như vậy, qúy vị hãy tự kinh nghiệm lấy! Phương pháp tu tập Hòa Nhập của Mật Tông (Tantric Yoga - Mật tông Du gìa) không đến từ sự đọc một vài cuốn sách, đọc sách chỉ cho chúng ta một sự hiểu biết rỗng tuếch, như một bệnh nhân uống lại cùng một thứ thuốc mà họ nghĩ rằng căn bệnh này cũng giống như căn bệnh cũ.

Phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga (hòa nhập vào Kim Cang Tát Đỏa) chỉ được thực hành khi đã được dạy bảo và được điểm đạo bởi một vị thầy kim cang. Vì thế những lời dạy bảo viết ra ở đây là một cơ hội vô cùng tốt đẹp cho chúng ta đọc trước khi thật sự đi vào con đường này. Nếu không hiểu như vậy thì những lời trình bày ở đây chỉ là những lời khô cằn không có một chút lợi ích gì.

Dharmavajra, một vị đại hành gỉa Tây Tạng, nhận xét rằng trong truyền thống Gelug của Phật giáo Tây Tạng phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga là một phương pháp tối thượng và độc đáo. Theo phương pháp này chúng ta có thể đạt giác ngộ ngay trong đời hiện tại, như trường hợp của Lạt ma Tsong Khapa chỉ có ba năm. Dĩ nhiên, lời dạy bảo tối thượng này đã không được phổ biến thành sách vở nhưng nó vẫn tồn tại trong tâm của những vị hành giả mật tông. Phật pháp chỉ được truyền từ tâm qua tâm giữa thầy và trò. Một số người tin rằng phương pháp này hiện nay vẫn được truyền dạy trong tông phái Gelug ở Tây Tạng.

Theo truyền thống thì tất cả những vị hành gỉa Tây Tạng đều mong muốn biến chuyển phương pháp Heruka Vajrasattva thành kinh nghiệm sống thực trong đời sống hằng ngày. Trước khi chúng ta thực sự thực hành, phát triển và hoàn thành con đường tu tập, chúng ta cần phải thanh tẩy thân khẩu và ý qua phương pháp tối thượng này. Sau khi lãnh nhận sự điểm đạo, chúng ta bước chân vào sự tu tập bằng cách tụng niệm hàng ngày bách tự mật chú Vajrasattva thì con đường tu tập của chúng ta sẽ có kết qủa hơn. Nếu chúng ta chỉ để hết tâm trí vào việc thiền định và mong cầu giác ngộ mà không lo thanh tẩy những thói quen, nghiệp chướng của thân khẩu và ý thì ta sẽ chẳng đạt được một kết qủa nào, vì trong tâm ta vẫn còn qúa nhiều vướng víu chướng ngại. 

Do đó, ta nên bước từng bước một trên con đường thiền định bằng cách thanh lọc cả thân và tâm. Ngay cả khi ta đang áp dụng phương pháp thiền quán là cố gắng tập trung vào một điểm (nhất tâm) mà không lo thanh tẩy trước thì đây cũng là một nguyên nhân làm ta chán nản và sẽ không còn chút hy vọng tiến triển nào. Vì ta không nhận ra được những chướng ngại đã tồn tại lâu đời trong thân khẩu và ý của ta.

Một số người khi bước chân vào con đường thiền định đã bị hướng dẫn sai lầm, họ cố gắng thu thập kinh nghiệm về không tánh bằng cách từ bỏ, buông bỏ, vất bỏ những hiện tượng hiện có, những gía trị hiện có vì họ cho rằng không tánh là một gía trị nào đó của cái không có gì, của cái không là gì. Nếu ta thực sự muốn kinh nghiệm không tánh, ví dụ theo lối Madhyamaka (Trung Đạo) hoặc trường phái Zen (Thiền) trong  Phật giáo, thì ta cũng vẫn cần phải dùng cả hai: phương pháp và trí tuệ. Rất nhiều người mong muốn đạt giác ngộ ngay nhưng chẳng ai muốn dùng phương tiện để đi, họ giống như những con chim đang bay bằng đôi cánh gẫy.

Khi nào ta gặp phải những chướng ngại trong lúc thực tập, đừng thất vọng, đừng nản chí. Thay vì chán nản, ta nên hiểu rằng ta cần phải thanh lọc con người ta và tập trung nhiều hơn vào phương pháp tu tập thay vì chỉ mong muốn đạt giác ngộ. Dần dần ta sẽ tiến bộ hơn trên con đường ta đang tìm kiếm. 

Tại Sao Cần Thanh Tẩy ?
Thanh Tẩy Như Thế nào ?

 Bài học này có là do lời yêu cầu của qúy vị, chứ không phải tự nhiên tôi kêu gọi qúy vị đến đây; trên con đường tu tập từng bước một đến giác ngộ, ta cần phải hiểu sức mạnh của tâm và sự tạo ra những hành động tốt xấu của nó như thế nào. Theo kinh nghiệm, khi quan sát đời sống ta sẽ nhìn thấy những hành động tự nhiên của thân khẩu và ý. Như vậy, với sự thúc đẩy của lương tri, chúng ta đã yêu cầu có bài học này để có thể thanh tẩy những nghiệp lực xấu đang hiện có trong chúng ta. 

Cái lối yêu cầu có bài học này của qúy vị rất là hay. Đặt trên căn bản hiểu biết của qúy vị về đặc tính của một cái tâm xấu thì sự yêu cầu này không thể đến từ sự vô minh hay từ một cảm hứng nào. Vì điểm tốt lành và sự thông minh đó mà qúy vị có thể thực hành phương pháp thiền này để phá vỡ hoàn toàn những năng lực xấu đã tồn trữ trong con người của qúy vị, tôi có cảm tưởng là bài học này sẽ đem đến cho qúy vị những ơn ích vĩ đại.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận chúng ta rất là may mắn khi chúng ta biết chắc chắn rằng tất cả những nghiệp lực xấu đều khởi phát từ tâm vô minh. Hầu như tất cả mọi người đều không ý thức và không hiểu nghiệp được tạo ra như thế nào, cũng không hiểu thế nào là sự khác biệt giữa một hành động xấu và một hành động tốt và những hậu quả hạnh phúc hay đau khổ mà nó đem lại. Qúy vị đã biết tất cả những điều này, đó là lý do tại sao qúy vị là những người may mắn. Ngay cả những người đã khám phá ra điều này, cũng rất khó mà tìm ra được một phương pháp để tẩy rửa hoàn toàn nghiêïp lực hầu thoát ra khỏi vòng cương tỏa của luật nhân quả. Điều này không phải dễ, nó cần một thời gian rất dài. Thật là may mắn cho chúng ta khi biết được một phương pháp tuyệt hảo để thanh tẩy toàn diện thân và tâm.

Càng may mắn hơn nữa vì chúng ta sẽ có được một phương tiện tối thiện xảo của mật tông. Được phương tiện này vô cùng khó. Tại sao khó? Vì như những người Tây phương lần đầu tiên tiếp xúc với Phật giáo họ không hiểu mục đích của sự quỳ lạy nên đã thốt ra câu: “ Tại sao phải quỳ lạy? Xin lỗi, không phải cho tôi !” Quỳ lạy là một điều quá ư là đơn giản, quá dễ hiểu! Phương pháp này vô cùng sâu thẳm và đầy sức mạnh để giúp chúng ta thực hành công việc thanh tẩy toàn thể con người chúng ta (quỳ lạy để đối trị tính ngạo mạn, kiêu ngạo, cái tôi -Dg).

Nói một cách khác, khi chúng ta thiền định theo phương pháp Lamrim từng bước một (Lamrim -con đường tuần tự từng bước một đưa đến giải thoát và giác ngộ, còn được gọi là Tiệm Tu -Dg) chúng ta thường gặp rất nhiều chướng ngại. Chúng ta không thể hiểu được tại sao thiền định lại qúa khó khăn. Tại sao khó kiểm soát tâm, tại sao khó đạt giác ngộ, tại sao tôi gặp qúa nhiều trở ngại khi  muốn làm một vài điều tốt? Chỉ huy một công việc trần gian thì sao qúa dễ mà chỉ thiền một chút thôi thì qúa khó?

Điều này không có nghĩa là ta thiếu vắng niềm an lạc. Nó chỉ có nghĩa là từ vô lượng kiếp ta đã tích tụ biết bao nghiệp xấu qua thân khẩu và ý đến nỗi bây giờ ta như bị chìm lặn trong biển khổ. Nếu những nghiệp chướng đó được thị hiện ra bằng hình tướng, ta sẽ thấy nó dầy đặc cả không gian. Nếu ta không có một chút trí tuệ nào hoặc trí tuệ qúa yếu kém như một ngọn đèn leo lét thì làm sao có thể soi chiếu vào đêm đen lồng lộng gío.

Ngọn đèn trí tuệ qúa yếu ớt đó không đủ để soi đường dẫn lối, không đủ để lôi kéo ta ra khỏi biển trầm luân của nghiệp lực. Vì thế, những năng lực của những ý niệm sai lầm, của ác tâm đã gây trở ngại cho ta trên con đường giải thoát và giác ngộ rất nhiều. Do đó, ta cần có một sức mạnh của sự thực hành tẩy rửa, bằng phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga, để có thể phá hủy tận gốc rễ những nguồn năng lượng vô minh và những hành động xấu của thân khẩu và ý.

Phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga có một nguồn năng lực vô biên để thanh lọc tất cả những nghiệp lực xấu, đó là những chướng ngại chính trên con đường tu tập. Những nguồn năng lực không trong sạch đã ảnh hưởng và để lại những dấu ấn đau khổ trên thân xác và tâm hồn chúng ta. Một cách triết lý hơn, chúng ta có thể nói rằng những nghiệp lực này chẳng phải ở bên trong (nội tâm) cũng chẳng phải từ bên ngoài (ngoại cảnh). Nếu chúng ta muốn nghiên cứu thêm, chúng ta có thể trở lại vấn đề này trong một dịp khác. Lý do mà tôi muốn nêu nó ra đây là vì khi tôi đề cập đến điều xấu, điều tiêu cực, tôi có ý nói nó khác với lối hiểu biết thông thường của phần đông những người Tây phương thường nghĩ nó là những cảm xúc, nhưng thực ra nó có một ý nghĩa sâu xa hơn, một tầm mức rộng lớn hơn nhiều.

Hãy lấy một ví dụ về thể xác của chúng ta, lần đầu tiên người ta đến với những lớp thiền, họ có một trở ngại rất lớn trong vấn đề ngồi thiền, vì hệ thần kinh kéo nguồn năng lượng xuống chỗ tận cùng của xương sống. Sở dĩ chúng tôi khuyên nên ngồi bắt chéo chân và thẳng lưng là vì khi chúng ta ngồi thẳng lưng thì những nguồn năng lượng tâm linh trôi chảy dễ hơn nên chúng ta dễ dàng kiểm soát được tâm của chúng ta. Tuy nhiên, sự thay đổi trong hệ thần kinh làm chúng ta có cảm tưởng rằng nguồn năng lượng tâm linh tuôn chảy từ luân xa đỉnh đầu (luân xa 7) xuống luân xa địa đại (luân xa 1). Điều này làm cho một số người lầm tưởng họ bị hụt hẫng, bị mất kiểm soát. Những người mới học không những chỉ gặp khó khăn trong cách ngồi mà còn gặp trở ngại trong vấn đề tập trung tư tưởng lâu dài để nghe những bài học mới. Đây là điều vô cùng khó khăn. Những khó khăn của thể xác và tâm hồn thực sự làm những người này thắc mắc và ngạc nhiên tại sao họ lại phải ngồi ở đây trên trái đất.

Cái áp lực ở luân xa địa đại là do nguồn năng lực âm của cơ thể, chúng xuất phát từ những tâm ý xấu. Trong truyền thống Đại thừa Phật giáo, chúng tôi không để ý nhiều đến sự phản ứng của cơ thể mà chúng tôi chú ý nhiều hơn đến những nguyên nhân của vấn đề, của vô minh, của nghiệp. 

Trên con đường thiền định từng bước một đi đến giải thoát, một khi ta không thể ngồi thiền - vì quá nhiều trở ngại - ta hãy nhớ rằng ta có một phương pháp tuyệt diệu để hóa giải những chướng ngại này, đó là phương pháp tẩy lọc thân tâm. Theo kinh nghiệm của các vị Lạt ma Tây tạng, con đường thiền định phải đi đôi với việc thanh tẩy, như phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga. Thực tập hai việc cùng một lúc sẽ giúp ta đạt được kết quả mong muốn mà không một chút ngăn ngại nào.

Nhưng cũng đừng hy vọng một điều không thực tế: “ Ngày hôm nay tôi xấu, tối nay tôi thiền là ngày mai tôi sẽ hoàn toàn trong sạch.”  Chúng ta không thể thanh lọc nội trong một đêm. Đây không chỉ là một điều hy vọng sai mà chính sự mong cầu này đã trở nên một chướng ngại! Một điều quan trọng là trong khi tu tập chúng ta không nên chờ đợi bất cứ một điều gì (càng mong cầu càng gặp ma chướng - Dg) Hãy nghỉ ngơi, hãy nới lỏng, hãy cởi mở, hãy buông thả, hãy thoải mái ! Hãy luôn luôn nghĩ tới điều này là chúng ta nên cố gắng, cố gắng và cố gắng. Nếu chúng ta làm được như vậy, chắc chắn kết quả tốt sẽ đến mặc dù chúng ta mong cầu hay chẳng mong cầu. Chúng ta không nên tiếp tục hỏi hoặc yêu cầu vị thầy cho một điều tiên đoán: “ Nếu con kiểm soát được thân khẩu ý, không làm những điều xấu mà chỉ làm những điều tốt thì con có đạt được kết quả ngay không ?” Có rất nhiều người đã đặt ra vấn đề này. Tại sao? Vì họ không hiểu một chút gì về nghiệp ! Nếu lúc nào ta cũng hành động khôn ngoan, luôn luôn thực hiện điều tốt lành thì cần gì phải hỏi, phải không quý vị?

Chỉ nên nghĩ : “ Từ bây giờ đến lúc chết, dù có giác ngộ hay không, tôi luôn luôn thực hiện những điều tốt lành mà tôi có thể thực hiện được, tôi sẽ cố gắng sống hữu ích cho chính tôi và cho những người khác.” Chúng ta còn hy vọng gì nữa? Chỉ mong muốn và thực hiện một điều đó thôi cũng đạt đạo rồi còn đòi hỏi chi: “ Nếu thiền định một tháng, tôi sẽ trở thành Heruka Vajrasattva.” Điều này chỉ thêm ràng buộc mà thôi. 

Mặc dù trong cuộc sống chúng ta sẽ tạo thêm rất nhiều nghiệp mới nhưng niềm an lạc lúc lâm chung sẽ bảo đảm chúng ta không phải tái sinh vào một kiếp thấp hơn kiếp hiện tại. Chắc chắn chúng ta sẽ nhận được sự bảo đảm này nếu chúng ta cố gắng tu tập và thanh lọc những nghiệp xấu đã làm. Không phải như những lời bảo đảm của trần gian, đây là sự bảo đảm của tâm linh. Trên đời này, mọi sự việc luôn luôn đổi thay, chúng ta không thể tin vào nhữngï đổi thay đó, chỉ là một mớ giấy! Sự bảo đảm của nội tâm cho chúng ta một sự an bình thật và trong lúc chết chúng ta sẽ kiểm soát được thân tâm để không bị ảnh hưởng xấu của tham sân si lôi kéo. 

Để có được kết qủa tốt trong thiền định, điều quan trọng là chúng ta hãy thực tập ngay phương pháp thanh tẩy Heruka Vajrasatta Yoga. Tất cả các vị Lạt ma đều nhận định rằng đây là một phương pháp tuyệt diệu để tiêu trừ các chướng ngại và những dấu ấn khổ đau mà nghiệp đã mang lại.

Trong khi những phương pháp Vajrasattva khác chỉ chú trọng vào việc thanh tẩy thân xác, thì phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga lại đặc biệt chú trọng đến việc thanh tẩy tâm linh. Đó là tất cả sức mạnh của nó ! 

Bốn sức mạnh đối nghịch

 Diệu pháp Heruka Vajrasattva được chia làm 3 phần: qui y, phát tâm bồ đề và thực hành phương pháp Heruka Vajrasattva. Tại sao phải qui y và phát tâm bồ đề trong diệu pháp thanh tẩy này ? Bởi vì, ngay cả trong lúc liên hệ với những đối tượng thánh thiện, như qui y Tam Bảo, cũng như với chúng sinh, thì những hành động xấu vẫn luôn luôn được tạo ra.

Chúng ta có thể kiểm chứng sự thật này ở ngay chính chúng ta. Hầu như tất cả những rắc rối trong đời đều đến từ những người chung quanh chúng ta, không phải từ cục đá, cục gạch hoặc cây cối và hầu như tất cả những rắc rối thông thường đều bắt nguồn từ những người thân cận. Sự liên hệ càng gần thì ảnh hưởng tình cảm càng phức tạp. Ví dụ, nếu chúng ta tránh xa dầu nhớt thì không sao, nhưng nếu chúng ta đến gần, đụng chạm vào nó thì chắc chắn sẽ dính đầy người và khó tẩy rửa sạch. Cũng giống như vậy, chơi dao có ngày đứt tay, gần mực thì đen gần đèn thì sáng; gần người nào thì dễ bị ảnh hưởng bởi người đó.

Một ví dụ khác, chính chúng ta, chủ nhân một hành động, cũng bị ảnh hưởng bởi tâm xấu của chính mình, rồi đôi khi cũng muốn ảnh hưởng điều đó trên người khác; như khi giết người, ta đi kiếm một người khác để giết; khi ăn cắp, chúng ta đi ăn cắp của người khác; khi nói dối, chúng ta nói dối một người khác. Dĩ nhiên, sự vô minh, sự tham lam không bao giờ được thỏa mãn, vì tâm ích kỷ đang hiện diện ở đó và những người khác cũng đang hiện diện ở đó. Trong trường hợp này, nghiệp xấu của chúng ta gây ra cho người nào tùy theo duyên nghiệp của chúng ta với người đó. Chúng ta thanh tẩy nghiệp lực xấu đó bằng sự phát nguyện tâm bồ đề.

Chúng ta cũng tạo ra những hành động xấu ngay cả với những đối tượng thánh thiện. Đôi khi, với một ác tâm, chúng ta không ưa Phật, không thích Bồ Tát, khinh thường ảnh tượng, kinh sách và dèm pha, phỉ báng sư  tăng. Có muôn ngàn lối để tạo ra những kiểu ác nghiệp này, chúng ta thanh lọc nó bằng cách qui y Phật, Pháp và Tăng.

Để phát nguyện bồ đề tâm, chúng ta phải tập và nuôi dưỡng lòng từ bi đến muôn loài chúng sinh, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc một quốc gia nào. Chúng ta phải vững mạnh, hăng say trên đường tu tập cho chính mình và khuyến khích những người khác cùng làm theo. Hãy thường xuyên có những thái độ này để cởi bỏ những nghiệp lực xấu trong chúng ta.

Nhiều khi chúng ta vững mạnh nhưng chúng ta không kiểm soát được những liên hệ nghiệp quả với cha mẹ chúng ta. Họ rất tốt với chúng ta nhưng chúng ta luôn luôn đem lại sự buồn đau cho họ. Chúng ta không thể dễ dàng cắt đứt sợi giây liên hệ với họ bằng cách nói một câu từ giã đơn sơ rồi cao bay xa chạy, để rồi không bao giờ muốn nhìn lại họ nữa. Điều đó không đủ để tách rời chúng ta với họ. Để chấm dứt liên hệ nghiệp quả với họ, chúng ta phải thanh tẩy nó bằng tình yêu bao la dành cho họ là phát nguyện tâm bồ đề tới họ trong tâm của chúng ta. Tương tự như vậy, chúng ta không thể xóa bỏ nghiệp với người khác bằng một lời từ biệt để không bao giờ muốn gặp lại. Sự liên hệ này phải được chuyên cần thanh tẩy.

Điều tốt đẹp nhất để thanh lọc nghiệp lực xấu là dùng Bốn sức mạnh đối trị nhau. Sức mạnh đầu tiên là sức mạnh của đối tượng, đó là qui y và phát nguyện tâm bồ đề. Phương pháp mà tôi diễn tả ở đây là: đối tượng qui y chính là Heruka Vajrasattva, Ngài là sự hợp nhất của qui y tam bảo:  Phật, Pháp và Tăng. Ngài cũng chính là vị thầy, vị thầy tuyệt đối mà chúng ta sẽ đề cập đến sau này. Trí tuệ của Ngài hiểu thấu được bản tính của cả hai nguồn năng lượng tốt và xấu. Ngài sẽ giải thoát chúng ta nên chúng ta qui y Ngài.

Sức mạnh thứ hai là sức mạnh của sự buông xả. Đôi khi còn gọi là sức mạnh của lòng nuối tiếc, nhưng từ ngữ này đôi khi làm mất đi cái ý nghĩa sâu xa của nó. Sức mạnh  này phát ra từ nội tâm, nó không phải là một cảm xúc buồn đau hay tội lỗi, mà là những dấu ấn tác động lâu dài trên những vấn đề của chúng ta, những dấu ấn đó là những nguyên nhân làm chúng ta tích lũy thêm những khuynh hướng xấu mỗi ngày. Hãy tưởng tượng một người vừa chợt khám phá ra hắn nuốt phải thuốc độc thì lập tức hắn muốn uống thuốc giải độc ngay. Sức mạnh của sự buông xả giúp chúng ta thấu triệt được những dư âm của từng hành động không tỉnh thức của chúng ta và ngay lúc đó chúng ta ý thức được rằng chúng ta đã tạo nghiệp nên chúng ta muốn thanh lọc ngay.

Sức mạnh thứ ba là sức mạnh của sự điều trị (chuyển hóa). Với sức mạnh này chúng ta điều trị tất cả những nghiệp lực xấu đã tồn trữ trong chúng ta. Khi thiền định, chúng ta chú tâm vào một điểm duy nhất là Heruka Vajrasattva - sự thị hiện của an lạc, của siêu việt, của trí tuệ được kết tụ trong vị thầy của chúng ta - rồi chúng ta thực hành phương pháp thanh tẩy cùng tụng niệm những câu mật chú.

Về sức mạnh thứ tư, tôi không biết có một từ ngữ Anh ngữ nào tương đương hay không, đó là sức mạnh của sự bền vững, không thể phá hủy được, khi nào chúng ta có được sức mạnh này thì sẽ không bao giờ, không bao giờ còn bị ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu nữa. Đó là một lời nguyện, một lời hứa, một sự quyết tâm. Cùng một lúc với sức mạnh này, chúng ta sẽ không bao giờ tạo thêm nghiệp xấu nữa. Mọi công việc coi như hoàn tất. Đó là một điều vững chắc và mãnh liệt đến từ trí tuệ. Trong mỗi người chúng ta có một nguồn năng lực vi tế luôn luôn bảo vệ chúng ta thoát khỏi những tệ trạng xấu. Nói xa hơn nữa, nó là một mãnh lực ngược hẳn lại những thói quen cũ của chúng ta, nó bảo vệ chúng ta một cách tuyệt đối. Dĩ nhiên, sức mạnh này cũng tùy theo sự quyết tâm của chúng ta, nếu là một quyết tâm mãnh liệt, toàn triệt, nó sẽ được bảo đảm hoàn toàn.

Ví dụ, khi chúng ta thực hành tám điều tâm niệm của Đại thừa mỗi ngày, thì ngay từ buổi sáng vừa thức dâïy chúng ta đã lập lại lời nguyện hứa. Từ lúc đó, chúng ta phải tỉnh thức và nuôi dưỡng nó trong cả một ngày. Nếu những lời nguyện hứa chỉ được giữ trong lúc tham dự lễ thì không lợi ích gì cả, nó phải được nuôi dưỡng trong từng giây phút của đời sống. Nếu không, khi buổi lễ vừa tan là chúng ta lại bị rơi ngay trở lại lối sống  cũ, trở lại với vô minh và sẽ chẳng hiểu những công việc chúng ta vừa làm.

Lời nguyện hứa không được đứt đoạn. Bất cứ một hành động nhỏ nào cũng có thể phá vỡ lời nguyện trong tâm chúng ta. Cả một đời chúng ta đã không kiểm soát nguồn năng lực này. Do đó, nếu mỗi sáng chúng ta xác nhận lại sự tỉnh thức này thì không có cách chi phá hủy được những lời nguyện của chúng ta. Trong chúng ta có một thân vi tế, được tích lũy những năng lượng để bảo vệ chúng ta.

Nghiệp

 Cũng theo đường lối đó để hiểu luật nhân quả. Khi chúng ta đã qui y thì bổn phận chúng ta là phải nhận định ngay ra nghiệp lực để từ đó chúng ta có thể ngăn ngừa những hành động xấu và những cám dỗ của chúng. Nhưng thường thường chúng ta khó có thể làm được như vậy. Chúng ta biết rằng nếu chúng ta tiếp tục tạo ra nghiệp thì chúng ta tiếp tục rơi trở lại vòng luân hồi khổ đau. Vì quan niệm như vậy nên chúng ta không có một sự hiểu biết sâu xa về bản tính của nghiệp. Người nào hiểu thông suốt gốc rễ của nghiệp lực thì sẽ không bao giờ tạo thêm nghiệp mà sẽ từ bỏ nó một cách tự nhiên không nuối tiếc. Cho tới khi nào chúng ta còn để cho những ràng buộc và lòng ích kỷ hướng dẫn những hành động của chúng ta, thì mặc dầu hiểu biết cặn kẽ nghiệp, chúng ta cũng vẫn bị nó lôi kéo và sẽ hành động theo nó. 

Tôi hiểu người Tây phương rất rõ. Họ thông minh, nhưng tâm của họ qúa phân tán. Một mặt họ muốn đạt đạo, một mặt họ vẫn giữ nghiệp. Nói cách khác, họ bị xúi dục, bị lôi cuốn bởi những thói hư tật xấu nên không có cách chi ngăn ngừa được nghiệp quả. Đấy là nguyên nhân của đau khổ, của than khóc! Họ là những người quá mẫn cảm. Khi tình trạng khổ đau khởi phát ra, năng lượng xấu sẽ bao trùm năng lượng tốt vì họ đã không thường xuyên liên tục tạo cho họ một sức mạnh tốt đẹp sâu xa, một sự hiểu biết cốt tủy về nghiệp lực, hay của luật nhân quả.

Có thể có người nói: “ Oâi, nghiệp chỉ là kinh nghiệm của những người nào tin nó. Người nào không tin, sẽ không bị nó hành.”  Rất nhiều người Tây phương đã tranh luận với tôi về vấn đề này. Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Luật nhân quả tác đôïng trên tất cả mọi người, dù tin hay không tin. Nếu chúng ta liên tục làm một công việc nào đó, chắc chắn chúng ta sẽ có kinh nghiệm về kết quả của nó, uống thuốc độc thì sẽ bị đau - rất có thể chúng ta nghĩ rằng đây cũng là thuốc. Một khi chúng ta đã tạo ra nghiệp thì chúng ta sẽ nhận lãnh hậu quả, đó là lý do tại sao chúng ta bị hết vấn đề này đến vấn đề khác trong đời sống.

Con bò, con heo, con bọ cạp chẳng có một ý niệm nào về nghịêp - không tin chuyện gì cả- nhưng chúng vẫn sống trong nghiệp quả của chúng. Mỗi một hành động của chúng được hướng dẫn bởi tham sân si và mỗi một hành động sẽ mang đến một nghiệp quả khác nhau. Vì thế, chúng ta không nên nghĩ rằng nghiệp chỉ dành cho những Phật tử, cho những Lạt ma. Nghiệp là luật tự nhiên tác động trên tất cả mọi hiện tượng - vật chất hay không vật chất - ở trong vũ trụ. Đây là một nguyên lý vô cùng quan trọng mà bắt buộc chúng ta phải hiểu.

Khi tôi giảng dạy về nghiệp, tôi không giải thích nó một cách kỹ thuật như một vài cuốn sách qúy vị tìm thấy ở Tây Tạng. Tôi trình bày nó một cách hết sức đơn giản là qúy vị hãy theo dõi cái chiều hướng mà tâm của qúy vị đang hành động lúc đó. Qúy vị có thể nhìn ra một cách rất dễ dàng tâm của qúy vị lên xuống như thế nào, đặc biệt trong lúc thiền định. Một khi chúng ta tỉnh thức trong vấn đề này, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được những kinh nghiệm đến từ trong quá khứ như thế nào, nghiệp quả y hệt như vậy. Điều này thật rõ ràng, không cần phải cầu kỳ giải thích kiểu này hay kiểu khác. Nói một cách đơn giản, không kiểm soát thân khẩu và ý thì nghiệp tự do diễn xuất! Tự do hoành hành!

Vì thế, dù tin hay không tin, nghiệp luôn luôn ảnh hưởng trên chúng ta. Đừng nghĩ rằng những người Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo thì ở ngoài vòng ảnh hưởng của nghiệp và không cần để ý đến nó. Điều đó không đúng. Hãy lấy một ví dụ, dân Do Thái và Ả Rập đã tạo nghiệp cho nhau nên bây giờ họ đang có những vấn đề ở Trung Đông. Những tên đồ tể không tin rằng việc giết quá nhiều súc vật sẽ ảnh hưởng đến họ, tin hay không tin, họ đã gây đau khổ quá nhiều cho chúng sinh khác thì chắc chắn đau khổ sẽ đến với họ.

Lần đầu tiên chúng ta đến Kathmandu, quý vị thưởng ngoạn phong cảnh rất thoải mái. Rồi khi quý vị lên tu viện Kopan, quý vị cảm thấy rúng động. Quý vị thấy nó quá dơ bẩn, không có một nhà vệ sinh nào ở đây. Sự rúng động của quý vị là kết quả của sự bám víu trước kia về một sự tiện nghi, sạch sẽ. Đó là nghiệp đấy! Nếu không bị ràng buộc vào những kinh nghiệm tiện nghi trước kia thì quý vị sẽ không bị rúng động vì những sự kiện dơ bẩn xẩy ra ở chung quanh. Vì thế, chúng ta có thể hiểu nghiệp và những hậu quả của nó một cách rõ ràng nếu chúng ta biết phân tích những kinh nghiệm của chúng ta trong đời sống hàng ngày.

Một điều rất tốt là chúng ta nên phát triển tâm tỉnh thức trên tất cả mọi hành động của chúng ta hơn là cứ để bị ám ảnh về phương pháp thiền, đây là thiền chỉ hay thiền quán như một số người  đã bị. Nếu tình trạng này xẩy ra, chúng ta hãy thoát khỏi tình trạng này bằng cách nghĩ rằng thiền chỉ là một phương pháp thực hành Phật Pháp còn tất cả những hành động khác như ăn uống, nói chuyện, ngủ nghỉ... toàn là những hành động của luân hồi.

Điều tôi muốn đề cập đến là có rất nhiều phương pháp thiền.Thiền quán không phải là một phương pháp duy nhất để thiền. Trí tuệ có thể đạt được bởi bất cứ phương cách thiền nào, trên bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ. Như vậy, chúng ta không phải chỉ có một phương pháp ngồi thiền bằng cách bắt chéo chân, cảnh giác nghiệp lực hàng ngày cũng là thiền và có thể nói rằng đấy là một phương cách rất tốt để phát huy trí tuệ. Bằng cách này, toàn thể cuộc đời của chúng ta sẽ được dùng để dẫn đưa chúng ta đến gần sự hiểu biết về vô ngã.

Khi hiểu được bản tính của nghiệp, chúng ta sẽ tự ý thức được tất cả những công việc chúng ta đang làm. Vì thế chúng ta có thể thiền ở bất cứ nơi nào. Như chúng ta đã biết, nếu chúng ta không tỉnh thức trong tất cả những hành động của thân khẩu và ý thì chúng ta sẽ tạo ra hết nghiệp này đến nghiệp khác và chúng ta sẽ nhận lãnh qủa báo đau khổ mà không thể trốn thoát. Chính điều này làm chúng ta luôn luôn tỉnh thức trong lúc nói chuyện, trong khi ở tiệm ăn, khi làm việc, ngay cả khi đang đi chợ. 

Thông thường chúng ta nghĩ cái tâm nhị nguyên không thể dùng làm đối tượng cho việc thiền định -- tâm nhị nguyên là tâm phân biệt của chúng ta dùng để diễn dịch những sinh hoạt thường ngày, như  đời sống luân hồi, sự bất mãn, sự đau khổ và những việc ngoài ý muốn -- Đó là ý nghĩ vô cùng sai lầm. Phật giáo Đại thừa dạy rằng nếu những cảm giác của thân xác như  cảm xúc có thể dùng để phát triển trí tuệ, thì bất cứ những hình thức kinh nghiệm khác cũng có thể dùng được, nếm thức ăn cũng có thể dùng để phát triển trí tuệ.

Một số người cho rằng quán tưởng không thể dùng trong lúc thiền định vì chúng là những phóng chiếu của trí óc, theo dõi hơi thở hay những cảm giác thì thực tế hơn và có thể dùng được. Đối với Phật thì cảm xúc, cảm giác hay quán tưởng cũng đều là huyễn ảo! Những cảm giác của thân xác thì không thường hằng, chúng thay đổi từng giây phút, vì tâm biến chuyển không ngừng nghỉ. Những cảm giác của thân và của tâm, nhất là của ác tâm đều là những hình ảnh phóng chiếu của vô minh. Tâm nhị nguyên, cái tâm phân biệt của chúng ta tự động phóng chiếu ra hai hình ảnh cho bất cứ một cái gì  mà chúng ta kinh qua.

Thường thường một người mới thực hành thiền theo phương pháp thiền quán đều coi những cảm giác của thân xác là thực. Nhưng không sao, bất cứ những gì họ dùng (nội cảnh hay ngọai cảnh) trong việc thiền đều xuất hiện như là những sản phẩm của tưởng tượng và đều có liên hệ đến tâm. Nói một cách căn bản hơn, không có gì khác biệt giữa nội và ngọai của một hiện tượng: chúng có thể thật mà cũng có thể không thật. Cho đến khi nào chúng ta chưa có một tâm rỗng lặng, không phân biệt - tánh không -  thì bất cứ cái gì chúng ta kinh nghiệm về thể chất hay tinh thần cũng đều là huyễn ảo, cũng đều là những quan niệm sai lầm.

Thực ra, vấn đề vị giác ở lưỡi cũng là một cảm giác của thân xác, truyền thống đại thừa thực hành thiền trên tất cả mọi trạng huống, mọi sinh hoạt. Thiền mật tông dạy chúng ta rằng trước khi ăn, chúng ta nên cúng dường và độ sinh cho thức ăn. Trong khi ăn, chúng ta nên ăn thật thoải mái và ý thức từng động tác, luôn luôn nhớ rằng chúng ta có liên hệ với thức ăn mà chúng ta đang ăn, không nên ăn vì ham muốn, thèm khát như chúng ta thường làm. Bất cứ sự kiện nào cũng là một đề tài để phát triển trí tuệ. Tụng niệm mật chú cũng giúp chúng ta rất nhiều trong vấn đề thực hành thiền. Chúng giúp ta dễ dàng tập trung, do đó không bị phân tán bởi những lôi kéo khác. Tuy nhiên, việc tụng niệm không hẳn phải đọc ra bằng lời. Mật chú là những âm thanh xuất hiện ra ở bên trong hệ thần kinh của chúng ta, vì thế trước khi sinh ra, chúng ta có thể nghe nếu chúng ta biết lắng nghe. Mật chú không phải là những gì chúng ta nhận được từ vị Lạt ma, tất cả đều đột khởi, tự khởi phát. Nếu không có những rung động tự nhiên ở bên trong hệ thần kinh, chúng ta đều điếc hết - mỗi loại năng lượng có một âm thanh riêng biệt. Đây không phải là tín điều tôn giáo mà là khám phá của khoa học. Chúng ta không thể từ bỏ những âm thanh tự nhiên trong hệ thần kinh của chúng ta. Hãy thử bỏ cái đầu đi xem nào!

Tuy nhiên, đây là những kinh nghiệm không vững chắc lắm của rất nhiều Lạt ma, những đối tượng tạm thời của ngũ quan cho ta nhiều chướng ngại hơn là giúp ta trong thiền định. Nếu chúng ta còn tiếp nhận sự vật qua tâm và từ ngũ quan, thì chúng ta vẫn không thể tập trung vào một điểm theo đúng nghĩa của nó. Chúng ta không phải là một thiền chỉ gia cũng không phải là một thiền quán gia. Hãy kiểm soát xem điều này đúng hay sai. 

Vì thế, ngớ ngẩn làm sao khi nghĩ rằng ngồi đây, cố gắng đi vào đại định mới là đường lối duy nhất để thực hành Phật pháp còn làm bất cứ điều gì khác trên cuộc đời này cũng đều sai, đều không phải Đạo pháp. Chúng ta nên cẩn thận và hãy thường xuyên ý thức những sinh hoạt trong đời sống như ăn, uống, ngủ, đi đứng, làm việc ... bằng sự hiểu biết của trí tuệ. Bất cứ khi nào chúng ta gần những bậc thầy, những tăng sĩ, cha mẹ, hay ngay cả những lúc ở một mình, chúng ta cũng phải ý thức được nghiệp càng nhiều càng tốt. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng chúng ta có thể trốn thoát được nghiệp khi vào trong phòng khóa kín cửa lại, để rồi làm bất cứ cái gì chúng ta muốn. Không thể chạy trốn được! Dù ở một mình hay với người khác, nghiệp qủa đến một cách tự động, xẩy ra một cách tự nhiên dù muốn hay không muốn.

Nếu chúng ta đã được dạy một đường lối duy nhất để thiền là hãy ngồi đó và đừng nghĩ gì cả thì chúng ta sẽ không còn thời giờ để thực hành nó nữa. Nghiệp cho biết rằng hầu hết những người Tây phương đều dùng cuộc đời của họ để làm việc hay để cho những sinh hoạt bên ngòai. Do đó, họ không có thì giờ để ngồi, chúng ta nên hiểu rằng thực hành Phật Pháp là một thực hành lâu dài. Thiền không phải là để tâm trống rỗng rồi đăm đăm nhìn vào một chỗ. Khi đã hiểu được cốt tủy của Phật Pháp thì chúng ta sẽ hiểu được có rất nhiều việc cho chúng ta làm, có rất nhiều việc để chúng ta phát triển. Điều này giúp chúng ta luôn luôn phấn khởi trên đường tu tập, ngay cả khi không thể tập trung tư tưởng chúng ta vẫn có thể thực hành Phật Pháp. Ở bất cứ đâu, đi bất cứ chỗ nào, với bất cứ ai hay với bất cứ một thiền giả nào, chúng ta đều có thể sống trong Phật Pháp. Khả năng này đến từ trí tuệ. 

Không có trí tuệ, làm sao ta có thể hòa nhập trong Phật Pháp và có thể giải thoát khỏi những ràng buộc về ăn, ngủ và bài tiết ? Khi có trí tuệ, không cần phải ở bên một vị thầy mới nhận lãnh được những lời dạy bảo, ta có thể học hỏi từ tất cả những vật chung quanh ta. Chúng ta có thể học từ sự chuyển động của các hành tinh, của sự thay đổi thời tiết, sự lớn lên và chết đi của cây cối, hay của bất cứ một hiện tượng nào. Điều này sẽ thực sự xẩy ra khi chúng ta có trí tuệ. Trí tuệ của ta sẽ cho ta biết vị thầy thực của ta là ai, đây là một điều rất thực tế. Đó là điều Phật Giáo Tây Tạng muốn dạy cho chúng ta.

Hãy dành trọn cuộc đời của chúng ta để học hỏi và kinh nghiệm Phật Pháp. Đó là sức mạnh duy nhất mà chúng ta có thể làm được. Đó là con đường đi đến giác ngộ trong một đời hiện tại, vì thế chúng ta không nên tiêu phí một phút nào trong cuộc đời chúng ta. Đây là một lý luận tuyệt vời. Nếu chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào một ý niệm sai lầm là dành một giờ trong ngày để thiền, như vậy còn lại 23 giờ kia sẽ là giờ của tối tăm, của u mê, giờ của luân hồi, thì chắc chắn chúng ta sẽ phải cần vô số lượng thời gian để giác ngộ. Tin vào cái gì thì cái đó sẽ thành sự thật, cho dù điều đó đúng hay sai! 

Phần 2

QUI   Y

Chúng ta đã chia sẻ với nhau tại sao chúng ta cần phải thanh tẩy và thanh tẩy như thế nào. Chúng ta cũng hiểu rất rõ là chúng ta luôn tạo thêm những nghiệp mới qua thân khẩu và ý, bởi vì chúng ta chưa thấu hiểu nguyên nhân nội tại, luật của nghiệp lực.

Có một sự khác biệt rất lớn giữa sự hiểu biết thuần lý thuyết và sự hiểu biết bằng kinh nghiệm sống thực. Một số học trò hiểu thấu đáo những lời dạy bảo về nghiệp và tin tưởng mãnh liệt rằng “Điều đó rất đúng vì Lạt ma của tôi đã nói như vậy!” Nhưng họ không có một chút kinh nghiệm sống nào, nên khi bị thử thách họ đã thất bại. Họ không có một phương pháp giải quyết khi một vấn đề trầm trọng xẩy ra. Họ rất thỏa mãn khi nói về nghiệp, họ còn khuyên cha mẹ và bạn bè họ: “Thôi, như vậy đủ rồi ! ” nhưng họ không thể làm được những điều mà họ đã nói vì họ chưa từng bao giờ thực hành.

Tuy nhiên, một số học trò khác không hoàn toàn thỏa mãn với những lý thuyết mà họ đã học, ngược lại,  họ thực tâm muốn hiểu thấu vấn đề bằng chính kinh nghiệm sống của họ. Có thể họ đã không học về nghiệp nhưng họ lại luôn luôn tỉnh thức trong mọi hành động, như vậy họ đã thực sự nếm mùi vị của Phật Pháp, như nếm mật ngọt bằng chính lưỡi của họ. Khi sự khó khăn xẩy đến, họ biết cách đối phó, biết cách giải quyết. Chúng ta phải hiểu thấu vấn đề này. Thật là nguy hiểm, nếu chúng ta chỉ bám víu, ôm giữ, tích tụ Phật Pháp mà không thực hành nó. Điều này không giúp chúng ta được chút gì trong cuộc sống.

Rất nhiều vị học giả, giáo sư, từ Đông sang Tây, đã giảng dạy về tất cả triết lý nhà Phật, mà chưa hề thực hành chút nào. Đặt câu hỏi là họ trả lời ngay, nhưng những câu trả lời của họ giống như những người hướng dẫn du lịch, họ chuyên nghiệp như một cái máy. Khi một người thực sự kinh nghiệm Phật Pháp nói, lời nói của họ tràn đầy sức mạnh của ơn phước, của chuyển hóa. Có thể họ cũng nói cùng một vấn đề như những vị học giả nhưng khi họ diễn tả vấn đề là họ truyền đạt đến tận con tim của thính giả, làm con tim của người nghe thực sự rung động. Lời nói không có kinh nghiệm giống như một cơn gió thoảng qua tai.

Nếu không hiểu luật nhân quả bằng chính kinh nghiệm bản thân, thì ta không thể tỉnh thức trong bất cứ việc gì ta làm. Mặc dầu những người này có thể giảng dạy rất uyên bác cho hàng ngàn thính giả, nhưng thính giả không cảm thấy gì, không tin được những lời thuyết pháp, vì họ chưa thực sự nếm được mật ngọt của vấn đề. Họ đã không thật sự sống với điều họ tranh luận. Đây là một điều đáng buồn. Khi được hỏi một vấn đề thực tế của nghiệp quả như thế nào, các vị học giả chỉ có thể dẫn chứng bằng những gì họ đã đọc trong một vài cuốn sách. Vì không có kinh nghiệm nên họ không thể giải thích được một cách rõ ràng: quan sát nghiệp như thế nào, làm thế nào để thực hành, cách chuyển hóa một hành động xấu qua tốt như thế nào? Có những câu hỏi thực tế về nghiệp đến từ bên ngoài sách vở, nên những học giả này không thể trả lời. Cuối cùng họ chỉ nói cho qua chuyện: “ Anh không thể hỏi như vậy, Phật Pháp không có vấn đề đó.” Thực sự vấn đề không đơn giản như họ đã đọc được trong sách vở.

Tôi chắc chắn rằng phần đông chúng ta đã hiểu rõ những hành động xấu của thân khẩu và ý là những chu kỳ tự nhiên, mang đến cho đời những đau khổ, những bối rối và những xấu xa. Đây là sự thật chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa. Qúy vị có thể giải thích vấn đề này rõ hơn tôi. Khi ngồi nghe cái giọng Anh văn què quặt của tôi, qúy vị tự nghĩ: “Cái ngôn ngữ gì quái gở vậy? Nếu ông ấy để tôi nói, tôi có thể giải thích hay hơn.” Đó là một sự thật. Nhưng tại sao chúng ta không thể chấm dứt những thói quen tật xấu của chúng ta? Điều đó chứng minh hiểu biết bằng lý thuyết thôi, không đủ, cần phải có thực hành.

Một số phật tử tuy hiểu rất ít về Phật Pháp, nhưng họ có một trình độ tâm linh rất cao, vì họ chú tâm chăm chỉ thực hành Phật Pháp. Nhưng có rất nhiều giáo sư, học gỉa uyên thâm về lý thuyết nhà Phật, đã từng đi thuyết pháp nhiều nơi mà chẳng có một trình độ tâm linh nào. Do đó, tôi khuyên qúy vị nên vô cùng thận trọng trong vấn đề này. Khi chỉ nói về, chỉ bàn về những lời dạy bảo thì nó chẳng có ích lợi gì. Chúng ta cần phải thực hành. Những lời dạy bảo phải mang những rung động của ơn phước, của chuyển hóa trong từng kinh nghiệm cá nhân, và phải có khả năng chuyển những nguồn năng lực đó đến người nghe.

Ở Tây Tạng, trên con đường dạy bảo những phương pháp tu tập, những bậc thầy thường không chú trọng dạy lý thuyết, mà đặc biệt chỉ chú tâm đến vấn đề thực hành Phật Pháp. Ngay trong lúc thuyết giảng, họ cũng để học trò thiền định. Kết qủa là có một số học trò đã chứng nghiệm ngay trong lúc nghe giảng. Thường thường một khóa học là 20 ngày, sau 20 ngày học hỏi, họ đã hiểu trọn vẹn vấn đề từ đầu đến cuối, tâm đầy tràn năng lực, họ gấp gấp rời bỏ tu viện, đi vào những hang động trong núi thẳm để thiền định trong cô liêu. Nói khác đi, những vị học gỉa có thể dạy chúng ta cả 20 năm mà không gây được một rung động nào trong trái tim của chúng ta.  

Tôi cũng đã thấy một số học trò Tây phương rất phấn khởi trong phương pháp tu tập Lam-rim, họ cũng muốn đi vào hang động để thiền định trong cô liêu. Tuy nhiên, tiếp tục kiên nhẫn tu tập trong nhiều năm để thanh tẩy những nghiệp chướng thì vẫn tốt hơn là đi vào núi thẳm để thiền định , vì sự thúc đẩy của cảm xúc hay của cảm hứng thì nhất thời không bền lâu. 

Vì thế, khi qui y và phát tâm bồ đề, chúng ta không nên để một khoảng trống giữa chúng ta và những công việc này. Nếu chúng ta không hợp nhất với những công việc này, chúng ta sẽ không tẩy rửa được những nghiệp của chúng ta, như sự trình bày ở trên kia. Khi qui y, chúng ta hãy trở nên làm một với việc qui y. Khi phát nguyện tâm bồ đề, chúng ta hãy trở nên làm một với tâm bồ đề. Không phải khi làm lễ qui y, ngồi trên tấm nệm mà tâm lại suy nghĩ những gì ở đâu đâu. Hãy để tâm hoà nhập với Phật Pháp mà chúng ta đang thực hành. Điều này tuy khó nhưng không phải là không  làm được, điều này thực sự cần thiết nếu chúng ta thực tập để mang lại lợi ích cho tâm hồn chúng ta và cho mọi người.

Bởi vì không những chỉ nghe mà còn cố gắng thực hành, nên một số rất đông những người Tây phương đã đạt được những thành qủa tốt trên đường tìm giác ngộ và họ đã có những chứng nghiệm rất cao. Những học trò này rất thành thực và bén nhậy trong lúc nói chuyện với Lạt ma Zopa và với cá nhân tôi, tâm của họ thực sự đã được cảm hoá bởi những điều họ nghe. Nếu trong lúc học hỏi, người nói như cái máy phát thanh, người nghe như bức tường, thì làm sao có được những ơn ích này? Nói một cách sâu xa hơn, với bản tính đa nghi của người Tây phương, họ không dễ dàng chấp nhận bất cứ điều gì cho đến khi họ đã hoàn toàn hiểu và thấm nhập những ơn ích của lời dạy bảo. Tôi thích nghe họ phát biểu: “ Thầy nói như vậy, tôi không chấp nhận.” Chúng tôi có cảm tưởng rằng họ ái mộ ông thầy vì lòng tin nhất thời hơn là có sự hiểu biết sâu xa hầu có đủ điều kiện để nghe Pháp.

Qui y và phát tâm bồ đề 

 Nguyện mãi mãi, Con xin qui y Phật, Pháp, Tăng, Tăng sĩ trong cả 3 truyền thừa, cùng chư Nam Tiên và Nữ Tiên của mật chú, những vị Anh Hùng, Chư Thiên, Chư Bồ Tát và đăïc biệt là Thầy con 

 “Thừa” được phiên dịch từ chữ Phạn yana, có nghĩa là “con đường, cỗ xe, phương tiện.” Theo nghĩa rộng thì đó là một phương tiện để nâng tâm thức của chúng ta lên một cấp độ cao hơn. Thí dụ, nếu chúng ta phát nguyện tâm bồ đề và thực hành sáu hạnh bồ tát, chắc chắn chúng ta sẽ đạt giác ngộ. Cỗ xe lớn, Đại thừa, đưa chúng ta đi từ chỗ khởi đầu, tâm bồ đề qua sáu hạnh và từ thập địa bồ tát lên đến giác ngộ. Nếu chúng ta bắt đầu một cách thật hoàn hảo và hành động đúng, chắc chắn chiếc xe sẽ đưa chúng ta đến chỗ mong muốn. Yana còn có nghĩa là con đường: con đường đi đúng sẽ dẫn đến đúng chỗ. Nếu vì vô minh, chúng ta chọn con đường đi sai, chúng ta sẽ đi lạc.

Ba cỗ xe Phật giáo là hai cỗ thuộc Tiểu thừa và một cỗ thuộc Đại thừa. Chúng ta qui y Tăng trong cả ba thừa. Mặc dù chúng ta đang theo truyền thống Đại thừa và đặc biệt hơn, trong cái chiều hướng sâu thẳm nhất của Mật tông, chúng ta cũng không nên kiêu ngạo mà nghĩ rằng “ Tôi thuộc Đại thừa, tôi không cần qui y Tăng bên Tiểu thừa.” Mặc dầu chư vị La hán bên Tiểu thừa còn bám víu vào sự giải thoát cho riêng họ, nhưng họ cũng đã vượt thoát khỏi ngã chấp để chứng nghiệm tánh không và họ cũng có khả năng hướng dẫn chúng ta ra khỏi kiếp luân hồi. Vì thế, chúng ta không nên kỳ thị mà chúng ta nên qui y các ngài.

Tiểu thừa và Đại thừa không phải là những phát minh của các vị Lạt ma Tây Tạng. Hai truyền thống Phật giáo này được sáng lập bởi chính Đức Phật và như vậy nó đã tồn tại từ lâu đời trước khi được truyền vào Tây tạng. Có một số người nghĩ rằng Đức Phật chỉ truyền dạy bằng tiếng Pali và cho rằng những bản kinh được ghi chép bằng ngôn ngữ khác là sai. Có những người khác lại tin vào tiếng Phạn (Sanskrit). Cả hai luận cứ này đều sai lầm. Một khi Phật pháp được truyền sang nước khác, được thực hành bởi các vị hành giả, thì nó vẫn được giữ nguyên vẹn lời dạy bảo, nhưng rồi dần dần được làm cho thích hợp với tâm hồn dân địa phương, và vì vấn đề truyền thông sao cho dễ hiểu. Như vậy, có một sự khác biệt lớn giữa xứ tuyết Tây tạng và bình nguyên nóng cháy Aán độ, do đó chúng ta có thể hiểu được sự thay đổi của Đạo Pháp khi nó di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác.

Ngày xưa, có một ông vua là môn đệ của Đức Phật, một đêm vua mơ thấy 18 người tranh giành nhau một cuộn vải, ai cũng cố gắng tranh phần thắng về mình. Sau cùng, ai cũng chiếm được trọn cuộn vải. Vua đến hỏi Phật về ý nghĩa của giấc mơ đó. Ngài giải thích rằng cuộn vải tượng trưng cho những lời dạy bảo của Ngài, sau khi Ngài qua đời, mười tám trường phái sẽ nắm giữ theo sự hiểu biết riêng của họ để giải thích giáo lý của Ngài. Mỗi người nhận được một cuộn vải có nghĩa là mỗi một tông phái sẽ nắm giữ một con đường đúng riêng và sẽ thực hành theo để đi đến giải thoát. Như vậy, sự thành lập mười tám tông phái Tiểu thừa là do lời tiên tri của Đức Phật.

Tông phái Phật giáo nguyên thủy (Theravada) là một trong 18 tông phái đó. Một số tín đồ của Tiểu thừa cảm thấy buồn khi được gọi là “ tín đồ Tiểu thừa” và yêu cầu được gọi là Phật giáo nguyên thủy -- điều này vô lý, vì Phật giáo nguyên thủy chỉ là một trong số 18 tông phái kia, Thevada không nắm giữ tất cả triết lý của Tiểu thừa, nên không thể coi như bằng nhau –Ngược lại, một số khác lại tự đắc khi nghĩ mình thuộc Phật giáo Đại thừa. Sự phân biệt nhị nguyên này phát khởi do tâm vô minh và đi ngược hẳn lại sự an bình nội tại của Phật Pháp.

Sự khác biệt căn bản giữa Tiểu thừa và Đại thừa nằm ngay tại tâm của họ. Nguyên tắc căn bản của Tiểu thừa là chú trọng vào sự giải thoát một mình họ, trong khi đó những người theo Đại thừa quan niệm đạt giác ngộ để giải thoát tất cả muôn loài chúng sinh. Một số người phân biệt mặc áo màu vàng là Tiểu thừa, áo màu đỏ là Đại thừa, nhưng đó là một sự sai lầm. Tất cả những ai tu tập không vì sự giác ngộ cho riêng mình mà cho muôn loài chúng sinh thì là Đại thừa, không phân biệt họ mặc áo mầu gì. Nếu ai mặc áo đỏ mà chỉ tu tập cho riêng họ, lo giải thoát khỏi luân hồi sinh tử cho riêng cá nhân họ thì đó chính là môn đồ của Tiểu thừa.

Chúng ta qui y Tăng thuộc Đại thừa cũng như Tiểu thừa, chư vị thần tiên và chư vị bồ tát - tất cả những vị này đã chứng nghiệm và thành tựu con đường cao nhất của Mật tông. Có vị xuất hiện như một vị thần từ bi, có những vị xuất hiện dưới dung mạo giận dữ.

Khi một vị bồ tát thị hiện dưới hình thức giận dữ, chúng ta không nên nghĩ rằng họ phải luôn luôn hiền hòa. Ngay cả trong đệ nhất địa của thập địa bồ tát, được gọi là “Hoan Hỉ Địa”, họ cũng có thể thị hiện ra hàng trăm cách khác nhau. Từ những hình dạng này, những lời dậy bảo có thể thị hiện từ Báo Thân Phật ra 100 vị Phật khác nhau hoặc hóa hiện ra 100 cảnh giới khác nhau để giáo hóa chúng sinh. Trong tiến trình bồ tát hạnh, khả năng của họ tăng lên gấp mười ở mỗi một cấp bậc; những gì họ có thể làm được vượt xa sự lý giải của chúng ta. Vì thế, chư vị bồ tát có thể thị hiện ra trong bất cứ dung mạo nào, một vị thần hiền lành hay một vị thần hung dữ ...vân vân..., chúng ta nên qui y các ngài.

Thực ra, chư bồ tát có thể thị hiện ra là người Đông phương hay người Tây phương, người da mầu hay người da trắng, người Thiên chúa giáo, người Hồi giáo hay người Do thái giáo - bất cứ hình dạng nào. Ngày nay, có quá nhiều tín đồ tôn giáo với tâm hẹp hòi, họ không muốn đến với những vị thầy tâm linh khác chủng tộc, khác màu da, khác tôn giáo hay khác quốc gia. Khi họ đã theo một vị thầy riêng, đã trở thành đệ tử của vị thầy đó, họ cho tất cả những vị thầy khác và tín đồ của ông ta là quỉ ma. Tôi gọi những người này là “chủ nghĩa Thầy.” Đây thật là một điều sai lầm, họ qui y với một tâm kỳ thị. Đây không phải là đường lối qui y của Phật giáo.

Dĩ nhiên, một số khác lại tự tôn mình là vị thầy số một và độc nhất trên thế giới, rồi đồ đệ của họ cũng tự nhiên tin như vậy. Trong trường hợp này, thay vì trở nên một chiếc xe chuyên chở tín đồ đến giải thoát, tôn giáo mà họ rao giảng lại làm ngộp thở tín đồ, họ trở nên hẹp hòi hơn và sau cùng trở thành một loại cuồng tín. Tốt hơn hết là không theo một tôn giáo nào, còn hơn là có đạo theo kiểu này. Ít ra, những người vô tôn giáo không có những quan điểm quá khích như vậy, với họ, họ nghĩ rằng chỉ cần trở nên một người bình thường là quá đủ, quá tốt rồi.

Chúng ta qui y phật và bồ tát trong 10 phương, qui y những vị đã đạt ngộ tánh không, bất kể họ thuộc màu da nào, quốc gia nào hay tín ngưỡng nào. Hãy nhớ rằng, cấp bậc thứ nhất trong hàng bồ tát có thể là người Phi châu đàn ông hay đàn bà, có thể là một bác tài xế lạc đà Ả Rập, cũng có thể là một tên khủng bố, khi nghĩ được như vậy, chúng ta sẽ phục vụ người khác tốt hơn.

Sau cùng, như trong lời cầu nguyện, chúng ta qui y vị thầy của chúng ta, đặc biệt hơn nữa là vị thầy nguyên thủy của chúng ta, người sẽ hướng dẫn chúng ta trên con đường đến giải thoát. Hãy luôn luôn nhớ rằng vị thầy duy nhất của chúng ta theo phương pháp này là Heruka Vajrasattva (Ngài Kim Cang Tát Đỏa) Danh từ Tây tạng Lob-pon có nghĩa là một người chỉ cho chúng ta con đường ngay thật và hướng dẫn chúng ta đi theo con đường đó, Ngài uốn nắn những hành động của thân khẩu ý của chúng ta và đem chúng ta ra khỏi những hành động mù quáng, vô minh. Ngài có thể hướng dẫn chúng ta đến giác ngộ ngay trong đời hiện tại hoặc chỉ trong ba năm. Hãy gọi tên Ngài bằng một tiếng tôn kính và qui y Ngài mãi mãi.

Khi qui y, chúng ta hãy quán tưởng như sau, bên phải là cha tôi, bên trái là mẹ tôi. Kẻ thù số một của tôi, người nào gây trở ngại cho chúng ta nhiều nhất, ở ngay trước mặt tôi. Người bạn thân nhất của tôi, người mà gắn bó với ta nhất, ở đằng sau tôi. Tất cả những chúng sinh khác ở chung quanh tôi. 

Theo Đại thừa, đây là sự quán tưởng tốt nhất. Nếu chúng ta thắc mắc chúng ta nên đặt người bạn thân của chúng ta ở đâu? Chúng ta thường trả lời “ Ồ, ngay ở đây, trước mặt tôi !” và kẻ thù ở sau lưng hoặc tít ngoài xa kia. Thay vì làm như vậy, khi qui y, chúng ta nên đặt kẻ thù ở ngay trước mặt. Hãy nhìn họ, hãy chiêm nghiệm đời sống của họ. Nói một cách chân thành, chúng ta hãy nghĩ đến những vấn đề riêng tư của chúng ta, trong cái riêng tư này có những nguyên nhân gây ra những hành động không thể kiểm soát được, rồi chúng ta hãy nghĩ rằng kẻ thù của chúng ta cũng ở trong hoàn cảnh đó. Hãy nghĩ như vậy cho kẻ thù của ta, “Tôi nghĩ rằng, người này xấu nhưng những khó khăn của họ cũng giống y hệt của tôi, thì tại sao tôi lại nổi giận mỗi khi tôi thấy họ? Vấn đề xấu nhất của họ chính là ngã chấp vô minh. Nghĩ rằng ghét cái gì thì sẽ ghét cái đó. Tôi không nhìn thấy tâm vô minh của họ thì tại sao tôi lại có những hành động xấu khi thấy họ? Thân xác của họ chỉ đại diện cho một cái tâm xấu, tôi không thích họ chỉ vì cái tâm xấu này sao? Họ có thể nhìn ra điều này nếu tâm vô minh của họ được thanh tẩy rồi họ cũng sẽ được giải thoát.” 

Do đó, chúng ta nên phát tâm từ bi đến kẻ thù của chúng ta khi chúng ta qui y. Đây là một quan niệm đúng đắn nhất, tuyệt vời nhất của qui y. Thực hành qui y theo đường lối này là cách tốt nhất để giải quyết những vấn đề của tham sân si. Nếu không, chúng ta lại tích tụ thêm âu lo cho hiện tại và lại làm tăng thêm những bám viú, những ràng buộc trong lúc qui y. Chúng ta nói rằng chúng ta đang thực hành Phật pháp, nhưng Phật pháp mà chúng ta đang thực hành chẳng mang lại ơn ích gì mà chỉ tăng thêm sự ràng buộc cho cuộc sống. Với thái độ như vậy, niềm an lạc của Phật sẽ trở thành một vật sở hữu, thay vì giải thoát chúng ta ra khỏi những phiền toái, những khó khăn của cuộc sống thì lại ràng buộc và gây cho chúng ta nhiều phiền toái hơn nữa. Lúc đó họ sẽ bực tức: “ Phật Pháp của ông như cục cứt!” Như vậy cái ngã lại tăng lên.

Trí tuệ là trí tuệ! Tại sao nó lại gây trở ngại cho chúng ta nếu có một vài kẻ vô minh bảo chúng ta là cục cứt? hay gọi Lạt ma của chúng ta là đồ quỉ sứ? Chúng ta không thể dễ dàng trở nên một cục phân hay đồ quỷ sứ khi bị gọi như vậy. Do đó, chúng ta hãy thâïn trọng! Nếu chúng ta tức giận khi một vài kẻ nhục mạ sự thực hành Phật Pháp của chúng ta, vô tình chúng ta đã mang Phật xuống thành một sự vật. Điều này chẳng những áp dụng cho đạo Phật mà còn cho tất cả những tôn giáo khác nữa. Nếu tín đồ của một tôn giáo nào mà tức giận gọi tôn giáo khác là không tốt rồi đi đốt chùa, đốt nhà thờ của họ, là những hành động điên rồ, cuồng tín và hoàn toàn sai lầm. Hãy kiểm chứng xem chúng ta phản ứng như thế nào khi đối diện với những hành vi này? Một khi tức giận thì đã quá muộn để kiểm soát!

Việc quán tưởng muôn loài chúng sinh ở chung quanh chúng ta khi chúng ta làm lễ qui y là một việc làm đầy sức mạnh hầu che chở và lôi kéo chúng ta ra khỏi những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Rất nhiều người trong chúng ta luôn luôn bị ám ảnh bởi những hành động xấu. Ta không thể quên nó được và không bao giờ dám nghĩ đến những kinh nghiệm của họ. Cuối cùng, ta phải thành thật mà nhìn nhận rằng ta cũng giống y hệt những người khác. Chúng ta bắt đầu tự nhủ “ Ít ra, tôi không phải là người xấu nhất trần gian, tôi không cô đơn trong sự buồn khổ, có nhiều người giống tôi, tôi nên có những hành động từ bi hỉ xả với họ cũng như cho chính tôi.”

Làm thế nào Phật, Pháp, Tăng cứu chúng ta ra khỏi biển luân hồi sinh tử ? Tất cả đều tùy thuộc vào thái độ tinh thần của chúng ta! Chúng ta phải hiểu thấu đáo bản tính hiện hữu của luân hồi và nguồn sức mạnh vô biên của Phật, Pháp và Tăng  sẽ dẫn chúng ta ra khỏi cái vòng luẩn quẩn này. “ Tôi không thể cứu nổi tôi. Mặc dầu tôi có đủ thông minh để làm cho cuộc sống đầy đủ hơn, sung túc hơn, nhưng tôi không đủ trí tuệ để lôi kéo tôi ra khỏi sức thu hút, sự bám viú  vào những thú vui vật chất, chúng trói buộc tôi vào kiếp sống luân hồi. Tôi không có cách nào giải thoát tôi ra khỏi cái vòng luân hồi này. Nhưng chư vị Phật có thể hướng dẫn tôi. Các Ngài có những phương pháp, có ánh sáng siêu việt để phá tan bức màn vô minh đang bao phủ tôi, các Ngài có chìa khóa mở cửa tâm hồn tôi, như vậy cây trí tuệ trong tôi sẽ lớn mạnh. Tôi qúa mệt mỏi vì những vấn đề không thể kiểm soát được mà cứ kéo dài mãi mãi chẳng bao giờ ngừng. Chư vị Phật sẽ chỉ cho tôi con đường thích hợp nhất để đem tôi từ chỗ tối tăm ra ánh sáng. Chư Tăng sẽ hướng dẫn tôi và các chúng sinh ra khỏi vòng u mê. Và Phật Pháp là giáo lý tối thượng, là con đường chân thật, là sự chấm dứt mọi khổ đau của chúng sinh.” 

Có rất nhiều ý nghĩa và cấp độ của danh từ Phật Pháp, tùy theo sự hiểu biết và trình độ của mỗi chúng sinh, và tôi chắc chắn rằng qúy vị đã từng học hỏi trong kinh sách của Phật giáo. Khi chúng ta qui y Phật Pháp, đối tượng qui y chính là Trí Huệ Bát Nhã, qua trí huệ đó, chúng ta sẽ hiểu thấu được chân tính và hòa nhập làm một với tánh không, hoàn toàn vượt ra khỏi ý thức nhị nguyên. Chúng ta luôn luôn nói về Phật Pháp, nhưng Phật Pháp là gì? Phật Pháp chính là Trí huệ, Trí Huệ Bát Nhã. Tuy nhiên, chúng ta phải mất một thời gian rất lâu và cần tích lũy rất nhiều chứng nghiệm thì mới đạt đến Trí Huệ Siêu Việt này. Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau thảo luận vấn đề này. Một cái xe hơi, muốn chạy tốt, nó phải tùy thuộc vào rất nhiều bộ phận, rất nhiều thành phần. Mỗi bộ phận đều không phải là cái xe. Cũng giống như vậy, trí tuệ là một sự tổng hợp của rất nhiều nguồn hiểu biết, mỗi một nguồn là một thành phần trong toàn bộ của con đường trí tuệ.

Vì thế, chúng ta có thể hiểu rằng có một sự khác biệt giữa công việc mà chúng ta qui y -Trí Huệ Bát Nhã, một sự hiểu biết toàn diện bản thể tuyệt đối, Tánh  Không- và Phật Pháp mà chúng ta thảo luận ở đây -trí tuệ để giải quyết những vấn đề thuộc tinh thần- Trí Huệ Bát Nhã là một đối tượng toàn tri mà chúng ta qui y. Có rất nhiều học trò khiếu nại họ đã chờ đợi quá lâu để được học Tánh Không. Nhưng như chúng ta đã thấy, tôi đã giảng dạy Tánh Không ở đây! Có điều tôi không tuyên bố và đánh lừa qúy vị bằng một lời lẽ đơn giản: “ Hãy lại đây! Tôi sẽ chỉ cho qúy vị Tánh Không, ngày mai qúy vị sẽ giác ngộ!!!”

Chư Phật dậy chúng ta Phật Pháp và cho chúng ta biết nó tác động ở nội tâm ta như thế nào để thực sự chấm dứt khổ đau. Qua việc thực hành liên tục chúng ta sẽ trở thành Phật. Tăng sĩ giúp chúng ta thành lập những điều kiện tốt cho việc thực hành để chắc chắn chúng ta sẽ thanh tẩy được nghiệp chướng mà chấm dứt khổ đau. Như tôi đã trình bày trên kia, chư vị Bồ Tát thị hiện bằng vô vàn cách khác nhau với một mục đích duy nhất là giúp chúng ta trên con đường thực hành Phật Pháp. Khi các ngài thị hiện ra trong hình thù hung dữ, chúng ta đừng sợ hãi, đừng tức giận mà nghĩ rằng các ngài không còn yêu thương chúng ta nữa. Thay vì thế, chúng ta nên suy nghĩ : “ Vị Bồ Tát này đang cho tôi biết tôi xấu như thế nào khi tôi tức giận. Nếu Ngài không làm như vậy thì không bao giờ tôi biết được chính tôi, tôi nên cám ơn Ngài về lòng tốt của Ngài.” Bất cứ lúc nào, bất cứ ai giận chúng ta, chúng ta cũng nên nghĩ rằng ông đó, bà đó... là sự thị hiện của Bồ Tát để dạy chúng ta về sự nóng giận. Giống như thế, khi nào chung quanh chúng ta có những người dễ thương, chúng ta nên nghĩ đến những sự an vui và đó chính là Bồ Tát đang chỉ cho chúng ta cách trở nên một người an lạc.

Chúng ta biết rằng có những người khi chúng ta gặp, chúng ta cảm thấy vui vẻ, an lành, nhưng có những người khi gặp, chúng ta lại cảm thấy khó chịu, không một chút tình cảm nào. Nghiệp đấy, nghiệp nó tác động đấy! Trong nội tâm của chúng ta có những nguồn năng lực gây ra tình trạng này, chúng ta hoàn toàn không kiểm soát được nó. Một anh đẹp trai, một cô duyên dáng tự nhiên nó đã như vậy dù ở bất cứ đâu, một người xấu tự nhiên nó xuất hiện như vậy. Đó là nghiệp của họ, mặc dầu họ không muốn, rất khó mà thay đổi được nó. Người Tây phương giải thích bằng khoa học vấn đề này như thế nào? Nghiệp làm cho đời sống của chúng ta khó hơn, bực bội hơn, nghiệp cũng làm cho đời sống của chúng ta dễ hơn, thoải mái hơn.

Tuy nhiên, không thể nói rằng nghiệp luôn luôn như vậy, nghiệp không thể thay đổi. Thực ra nghiệp là một hiện tượng có thể thay đổi được. Khi một nghiệp lực xuất hiện, thì ngay lúc đó một lực khác cũng xuất hiện để cân bằng.

Hãy lấy một thí dụ, Gomchen, một con chó nhỏ ở tu viện; tất cả mọi người yêu thương nó, Phật yêu thương nó, Chúa Jesus cũng yêu thương nó. Nếu không như vậy, thì không một ai có thể nói chuyện hoặc đến gần nó được; đến khi nào họ thay đổi một hình dạng thích hợp hơn thì sẽ lại gần nó được. Đó là nghiệp của họ. Tất cả chúng sinh trong cõi luân hồi đều phải chấp nhận những sự việc xẩy ra cho tới khi nào có một sức mạnh ở phía sau của kinh nghiệm này, của nghiệp lực này làm cho nó tan biến đi. Tất cả đời sống của chúng ta đều tùy thuộc vào nguồn năng lượng này. Khi nguyên động lực của một hành động đã tan biến, nó sẽ không còn mang lại hậu quả. Hãy quan sát cuộc đời của ta, ta sẽ hiểu được luật nhân quả. Đời sống của mỗi chúng sinh tùy thuộc vào đường lối suy nghĩ riêng, cấp độ ý thức riêng, thái độ riêng và hoàn cảnh sống chung quanh họ. Đó là nghiệp. Tôi dùng danh từ nghiệp ở đây hơi nhiều, mong rằng qúy vị hiểu thấu đáo.

Để kết luận, chư Phật chỉ cho ta con đường chân thật và sự chấm dứt tối hậu, Phật Pháp giải thoát ta ra khỏi luân hồi sinh tử. Các Ngài chỉ cho chúng ta biết nhận định ra đâu là sự hướng dẫn đúng và đâu là hành động đúng để phù hợp với con đường tu tập của chúng ta. Điều này có nghĩa là cho chúng ta, không phải cho Phật, ta phải thực sự có trách nhiệm trên con đường giải thoát của chính ta. Chúng ta phải hiểu rõ vấn đề này.

Chư Tăng trong ba thừa, gồm cả chư vị hộ pháp như Mahakala và Kalarupa đều là những người bạn của chúng ta; họ có thể giúp chúng ta bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu. Do đó chúng ta nên hiểu ý nghĩa thật của danh từ Tăng. Phần đông chúng ta hiểu Tăng là những người mặc tăng bào, nhưng không có một sách vở nào nói đến điều này. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng tất cả những ai đã hiến mình cho Phật Pháp qua một nghi lễ đều là Tăng. Những vị Tăng tối cao là những người đã chứng nghiệm được chân tính, Tánh Không; bất kể loại áo nào họ mặc, bất kể màu da nào họ có, bất kể quốc gia nào họ ở...vân vân..., họ đều thực sự là Tăng sĩ, là những người bạn quí nhất của chúng ta.                 

Chúng ta thường cảm thấy cô đơn, nhưng chúng ta không cô đơn. Bởi vì, chư Tăng bất diệt luôn luôn đang ở với chúng ta, đó là chư vị thần tiên, chư vị bồ tát trong mọi hình dáng và chư vị tăng sĩ trong cả ba truyền thừa. Họ có thể hướng dẫn chúng ta thoát khỏi những biến động, những lầm lẫn trong cuộc sống. Một khi chúng ta nhận thức được điều này là chúng ta không bao giờ thiếu bạn, không bao giờ cô đơn. Hãy thiền định, hãy đi vào bên trong: người bạn chân thật không bao giờ bỏ chúng ta đang ở đó.

Đối tượng quán tưởng khi qui y

Phương pháp thực hành quán tưởng Ngài Kim Cang Tát Đỏa khác với phương pháp mà chúng ta thường quán tưởng trên con đường tiệm tu đến giác ngộ, trong phương pháp tiệm tu đối tượng chính để quán tưởng là Đức Phật Thích Ca. Nhưng Đức Phật mà chúng ta quán tưởng ở đây là Heruka Vajrasattva (Kim Cang Tát Đỏa) hay Vajradhara (Kim Cang Thủ), tùy theo vị nào dễ cho chúng ta quán tưởng.  

Hãy quán tưởng Ngài Kim Cang Tát Đỏa màu xanh, đứng, đang ôm choàng nữ Phật tính của Ngài, Vajra Varahi màu đỏ (có nơi dịch là Phật Mẫu --Dg). Chung quanh Ngài là chư tiên nam và nữ, 62 vị thần trong mạn đà la Heruka, cùng vô lượng Phật, vô lượng Bồ Tát và các vị A la hán đã chứng ngộ cảnh giới an lạc bất diệt. 

Nếu chúng ta chọn Vajradhara để quán tưởng thì Ngài ngồi trên tòa sen ôm choàng nữ Phật tính của Ngài, Vajradhatu Ishvari. Ngài mang màu xanh, nữ Phật tính màu đỏ, chung quanh Ngài cũng giống như sự thị hiện ở trên, ngoại trừ không có 62 vị thần của Heruka mạn đà la. Tuy nhiên, dù quán tưởng Heruka hay Vajradhara, hãy nhớ kỹ một điều là vị thầy của chúng ta cũng xuất hiện y như vậy. Vị thần này là đối tượng chính để chúng ta quán tưởng khi qui y và chúng ta sẽ trở nên làm một với Ngài (thầy của chúng ta.) Như vậy, Vajrasattva hay Vajradhara chính là Phật; chư vị thần tiên, chư  tăng của ba dòng truyền thừa chính là Tăng và Phật Pháp chính là Trí Huệ của các Ngài.

Ơn phước của sự quán tưởng Heruka trong tư thế đứng sẽ được ban phát, sẽ được thấm vào hệ thần kinh của chúng ta và nó sẽ đánh thức nguồn năng lực nội tại (kundalini, tâm hỏa) của chúng ta. Công việc này giúp chúng ta trong việc thực hành maha-anuttara yoga mật tông. (maha là vĩ đại, to lớn; anuttara là không gì sánh bằng, tối thượng, Trung hoa dịch là A Nậu Đa La. Trong Kim Cang Thừa có tất cả 6 thừa, bậc hạ: Kriyayoga, Upayoga và yoga. Bậc thượng: Mahayoga, Anuyoga và Atiyoga. Anuttara yoga là sự tổng hợp của ba tầng yoga bậc hạ  -- Dg).

Sự quán tưởng không phải là công việc của đôi mắt, chúng ta không thể nhìn đăm đăm vào hình ảnh của Ngài để ở trước mặt chúng ta. Thần xác của Heruka là sự thị hiện chân bản thể của Ngài trong hình tướng thần linh trước mặt chúng ta. Do đó, sự quán tưởng là một sự biến đổi, là một sự chuyển hóa để trở nên làm một với tâm bản nhiên an lạc, đó là chân tính.  Chúng ta không thể cảm nhận chân tính bằng con mắt trần hay bằng giác quan của chúng ta. Vì thế, để cảm thông với chúng ta, nguồn năng lượng siêu việt mới thị hiện thành hình dáng này, trong suốt như ánh sáng. Sự thị hiện không xuất hiện thường xuyên nhưng đột khởi như một hình ảnh trên màn ảnh hoặc như một người đột nhiên thoáng đi qua cửa sổ. Qua sự quán tưởng này, chúng ta sẽ dễ dàng liên lạc được với Pháp Thân Phật (Dharmakaya).

Sau khi qui y,  chư Phật và Tăng trong ba thừa -- Thần Tiên, chư Bồ Tát trong hình thể an lạc hoặc hung dữ cùng các vị Hộ Pháp...vân...vân -- sẽ hòa tan trong ánh sáng và hòa nhập trong vị thần chính Heruka. Vajra Varahi cũng trở nên ánh sáng rồi hòa nhập trong Heruka. Cuối cùng, chính Heruka cũng hòa tan trong ánh sáng rồi kết tụ lại ở trái tim của Ngài thành một qủa cầu sáng. Quả cầu sáng này sẽ đến trên đỉnh đầu (luân xa 7) của ta và tuôn chảy vào đường kinh mạch chính, đi qua luân xa cổ họng (luân xa 5) để hòa tan vào luân xa trái tim (luân xa 4) của ta. Như thế là toàn thể con người của ta trở nên làm một với ánh sáng, đó là vị thầy nguyên thủy Heruka của chính ta. Tiếp tục tập trung vào đó càng lâu càng tốt, đừng để những tư tưởng nhị nguyên, cái này cái kia, quấy phá ta.        

Khi thực hành, chúng ta có thể tập trung vào một điểm như vậy khoảng nửa giờ. Khi những ý niệm xấu bắt đầu xuất hiện, hãy ngưng thiền và phát nguyện Tâm Bồ Đề:

 Con muốn trở nên Heruka để hướng dẫn muôn loài chúng sinh đến cảnh giới an lạc của Heruka.

Ba phương pháp qui y

 Có ba phương pháp qui y: bên ngoài, bên trong và bí mật. Thông thường, phần đông chúng ta nghĩ rằng kinh điển hay Ba la mật, là phương pháp duy nhất để qui y. Đó là phương pháp mà chúng ta gọi là qui y bên ngoài, hiện nay phương pháp này thường được giảng dậy. Theo cách này, qui y Phật là một vị Phật ở bên ngoài chúng ta: một người đạt quả vị Phật, như Phật Thích Ca. Qui y Pháp là những lời dạy bảo của vị đó. Qui y Tăng là qui y các vị đã được chỉ định hay các vị đã chứng ngộ được pháp tánh trong sự dạy bảo, như tôi đã giải thích ở trên.  Phật, Pháp và Tăng đã hiện diện như vậy thì sẽ có đầy đủ quyền lực để hướng dẫn chúng ta là những kẻ sợ hãi luân hồi sinh tử, chúng ta nên qui y các Ngài.

Còn lại hai phương pháp qui y kia là của Mật tông. Qui y ở bên trong là qui y đức Phật mà chính  ta sẽ trở thành. Đối tượng Trí Huệ, Phật Pháp tương lai, là chính Phật Pháp nội tại. Khi ta chứng ngộ được cảnh giới đó, chính ta sẽ trở thành Tăng: đó là đối tượng, vị Tăng nội tại. Theo phương pháp qui y này thì ta không chỉ là một vị Tăng mà thực ra ta đã hợp nhất với Tam Bảo và ta cũng không cần phải qui y một cách riêng biệt nào bên ngoài nữa.

Khi qui y theo phương pháp nội tại này, tâm của ta sẽ trở nên làm một với chân tâm; tất cả đều chuyển thành cảnh trí của Heruka hay của  Vajradhara, cùng với chư Bồ Tát, Thần Tiên như đã trình bày ở trên. Để theo phương pháp này, ít nhất ta cần phải có một sự hiểu biết sâu rộng về những ý niệm sai lạc và những phóng chiếu của bản ngã, như thế ta mới có thể thanh tẩy được những vấn đề khi ta qui y. Đây  không phải là một điều dễ dàng.

Qui y bí mật là phương pháp thứ ba. Phương pháp này là phương pháp khó nhất. Ta phải biết rằng khi đã qui y hệ thần kinh của ta đã được thấm nhập bởi những nguồn năng lượng an lạc thay vì những nguồn năng lượng ô nhiễm của những lôi kéo, của những bám víu vào cảm giác. Ở đây ta sử dụng cái nguồn năng lượng đã sẵn có trong hệ thần kinh của ta, để phát khởi cùng một lúc với niềm hỷ lạc và hợp nhất với chân tính để tiến lên con đường giải thoát. Kinh nghiệm này sẽ thực sự giải thoát ta khỏi những bất mãn và trí phân biệt nhị nguyên. Phần đông chúng ta không ai ý thức được cái nguồn năng lượng đã sẵn tiềm ẩn ở bên trong chúng ta. Nhưng khi chúng ta đã tạo được một trạng thái đúng qua việc thực hành, như phương pháp thiền này hoặc phương pháp thiền Tum-mo (luyện tâm hỏa) là chúng ta có thể kinh nghiệm được sự hoạt động của nguồn năng lượng an lành này mà trước đây chúng ta không bao giờ nghĩ đến nó. Tôi được nghe có nhiều người đã đạt được những kinh nghiệm vĩ đại về nguồn năng lượng này ở bên trong hệ thần kinh của họ khi họ thực tập phương pháp tu dưỡng Chu-len của tôi.

Đây là ba phương pháp qui y mà chúng ta không còn phải thảo luận thêm gì nữa, nó đã được dạy bảo để cho những người muốn thực hành Đạo pháp chọn lựa phương pháp nào thích hợp nhất trên con đường phát triển tâm linh của họ. Phương pháp qui y bên ngoài phổ thông nhất, phương pháp bí mật dành cho những người có cơ duyên, cho những người có căn cơ.

Nếu chúng ta hiểu được ý nghĩa chân thực của sự qui y, chúng ta sẽ nhận được kết quả tốt đang xẩy ra trong tâm chúng ta và sẽ kinh nghiệm được những ơn phước của nó. Như vậy chúng ta sẽ thực sự hạnh phúc khi qui y và mỗi lần chúng ta làm việc này, nguồn năng lượng hỷ lạc sẽ lớn dần trong trái tim của chúng ta. Nếu chúng ta không biết qui y thì dù thiền bất cứ cách nào đi nữa cũng chỉ như tuyết rơi trên đường, nhìn thì hấp dẫn lắm, đẹp lắm nhưng sẽ tan biến mau. Giống như vậy, sự thiền định của chúng ta sẽ không có kết quả lâu dài. Với sự hiểu biết sâu xa về qui y, chúng ta sẽ bắt đầu nếm mật ngọt của Phật quả.          

Phần 3

NỘI QUI Y VÀ THIỀN ĐỊNH TRONG TÍNH KHÔNG

 

Tìm hiểu Tính Không

Tại sao thực hành phương pháp nội qui y của mật tông quá khó? Tại vì nó được hoàn thành bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt đầu công việc này, qui y phải được thực hiện bằng tất cả trái tim, trọn vẹn cả tâm hồn. Qui y không phải là lặp đi lặp lại một vài câu nói trong khi tâm không có một chút rung động nào. Có nhiều người qui y vì tập tục, xã giao. Miệng thì tụng: “ Namo Thầy, namo Phật, namo Pháp, namo Tăng ” mà không hiểu một chút ý nghĩa gì và tâm không một chút rung cảm nào. Một số người khác thì lặp đi lặp lại theo những người chung quanh như một con vẹt. Đó không phải là qui y, nó giống như dùng một bữa ăn sáng, như đi nhà thờ theo thói quen hoặc vì bắt buộc, mà không có một chút thay đổi gì, không có một chút cảm nhận nào, là chúng ta đang đặt chân lên con đường giải thoát.

Như tôi đã nhấn mạnh ở trên, khi chúng ta dùng phương pháp nội qui y thì tâm của  ta trở nên làm một với Phật tính, làm một với Đại lạc, làm một với Trí tuệ và chúng ta chuyển tất cả vào cảnh giới thánh thiện thanh tịnh của Heruka. Đừng kiếm tìm những đối tượng nào khác ở bên ngoài để qui y! Tôi biết rằng qúy vị đang nghĩ nó ở đâu đó trước mặt qúy vị. Tâm nhị nguyên của chúng ta nghĩ, “Tôi đang qui y.” Chúng ta đang ngồi đây, nhưng làm một vài việc ở ngoài kia. Tâm nhị nguyên của chúng ta phân biệt chủ thể và đối tượng (nhị nguyên: tôi/qui y, chúng ta/đây....--Dg). Ngay khi chúng ta nghĩ chúng ta đang làm một việc gì thì lập tức, một cách rất tự nhiên, chúng ta nghĩ đến một hành động ở bên ngoài. Điều này xẩy ra bởi vì chúng ta đã có quá nhiều dấu vết nhị nguyên, dấu vết hay phân tích và so sánh trong tâm khảm của chúng ta (đây chính là những tiền ý niệm đã có sẵn ở trong đầu chúng ta, đã huân tập do tập quán, thói quen, kinh nghiệm... từ muôn vàn kiếp trước --Dg). 

Vì thế, khi áp dụng phương pháp nội qui y thì chính tâm ta trở nên niềm an lạc cho chính tâm ta. Khi ta phát khởi lòng tin mãnh liệt vào chân tính thì ngay lập tức nó biến chuyển và xuất hiện trong ta như là Heruka. Ta hoàn toàn cảm nhận ta và Heruka là một. Trong tinh thần đó ta qui y. Phương pháp này cực kỳ hữu hiệu và ơn ích. Có thể rất khó hiểu nhưng chúng ta nên làm thử. 

Để hiểu phương pháp qui y này, bắt buộc chúng ta phải hiểu Tính Không. Nếu không, công việc chuyển hóa của tâm ta vào đại lạc, vào sự vĩnh cửu của trí tuệ sẽ khô cằn như một ý niệm bình thường, thay vì đó chính là sự sung mãn của một kinh nghiệm nội tại. Nếu ta đã hiểu rõ ràng về tâm bản nhiên, nếu tâm ta đã từng có những kinh nghiệm về tính không thì đó là mối liên hệ thật dễ dàng cho tâm ta trở nên làm một với trí tuệ, để chuyển hóa và hòa nhập ta là một với Heruka. Với phương pháp này tâm ta hòa nhập trong nguồn năng lượng đại lạc của Heruka thay vì những ganh ghét, những tham lam và những bám víu thông thường.

Nếu thực sự tâm ta đã hòa nhập trong niềm an lạc đó thì ta không cần phải cầu nguyện, không cần phải tụng những câu: “ Namo Phật... vân vân...” Lời nói không qui y! Những kẻ yếu hèn thường cần ngôn từ để truyền thông nhưng ngôn từ chỉ có ý nghĩa, giá trị của ngôn từ. Nếu ta đã thực sự kết hợp với nguồn đại lạc thì ta đâu cần qui y bằng những lời thốt ra từ môi miệng. Như vậy, dù ở bất cứ đâu, làm bất cứ gì, trong bất cứ thời điểm nào, ta vẫn có thể qui y trong từng giây từng phút, vì ta đã là một với những sự việc này rồi. Chúng ta biết rằng sự vĩnh cửu, niềm an lạc của trí tuệ thì vô cùng sâu thẳm và trong sáng. Qui y không phải là ngồi bắt chéo chân như trong lúc thiền định. Sự thành tựu của con đường này là một sự tiềm ẩn tự nhiên không tùy thuộc vào những hành vi bên ngoài. Như vậy qua phương pháp tu tập thanh tẩy này chúng ta có thể đạt giác ngộ một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Sự đạt ngộ tính không có một giá trị hạnh phúc vĩnh cửu thường hằng. Ngược lại, niềm vui của thế gian thì ngắn ngủi và thường để lại đớn đau khi nó biến mất. Nếu chúng ta không bám víu vào những thú vui vật chất thì chúng ta sẽ không đau khổ khi nó ra đi.

Nếu chúng ta không hiểu thấu đáo tính không bằng những thực chứng thì ít ra chúng ta cũng phải có một ý niệm rõ ràng về nó, để chúng ta có thể vượt qua được những ý niệm sai lầm trên con đường chúng ta đi, đó là những vết hằn đã in sâu trong tâm khảm chúng ta. Thông thường, những ý niệm mà chúng ta đã có về chúng ta thì rất tự nhiên. Tôi nghĩ, “Tôi là Thubten Yeshe” nên trong tâm tôi đã có một hình ảnh rõ rệt nào đó về cái đầu, tay chân cùng những giác quan của tôi. Cho tới khi nào chúng ta còn nhìn chúng ta theo kiểu này thì chúng ta không thể nào hòa hợp tâm thức của chúng ta với sự bất diệt, với niềm an lạc. Khi có sự hiểu biết về tính không thì chính sự hiểu biết này sẽ là nguyên nhân để phá vỡ những hành động xấu xẩy ra hàng ngày, đây là luật liên đới của dòng tư tưởng, nó làm việc một cách tự nhiên, tự động trong tâm của chúng ta. 

Nếu chúng ta có một trí thông minh bén nhậy, thì không khó lắm để hiểu tính không. Chúng ta không cần phải học những bài triết phức tạp, cũng không cần phải nghiên cứu những bài tập của các vị Lạt ma. Dĩ nhiên, chúng ta có thể học trong sách hoặc qua một vị thầy, nhưng nếu chúng ta có khả năng, chúng ta có thể học qua phương pháp vô cùng đơn giản này: đừng tin những gì do ngũ quan đem lại. Không cần phải nghiên cứu sâu xa hơn cũng không cần phải khôn ngoan hơn nữa để biết rằng cái gì đã ngăn che không cho chúng ta nhìn ra được tính không. Hãy nhận xét đơn giản rằng tất cả những gì chúng ta cảm nhận được hàng ngày trong cuộc sống qua thế giới cảm giác thì hoàn toàn sai lầm. Đó là những nhận thức sai lầm của cái tôi. Ngay khi chúng ta phát giác ra điều này thì những quan điểm sai lầm tự nó sẽ biến mất. Điều cốt tủy mà phương pháp tu tập tuyệt diệu này mang lại là nó sẽ giúp chúng ta nhìn ra ngay được những phóng chiếu sai lầm của cái tôi để rồi cắt đứt nó hoàn toàn.

Chúng ta luôn luôn cảm thấy bất an, lo lắng. Trên đường đến gặp một người, ta thường nghĩ, “ có thể cô ta không thích tôi, không biết anh ta có thiện cảm với tôi không? ước gì tôi là người dễ thương” hoặc “ có thể cô ta không thích giọng nói của tôi,” ...vân...vân... Những tư tưởng đa nghi như vậy thường đến từ những ý niệm sai lầm, từ những lối diễn dịch sai lạc của một tâm vô minh. Chúng ta nên sớm nhận ra rằng tất cả sự vật đều bị sơn một lớp bởi tâm vô minh của chúng ta, những quan niệm hão huyền, những tư tưởng và những cảm xúc của chúng ta đều không có một liên hệ thực tế nào. Chúng hoàn toàn cá biệt, ta nên chấm dứt ngay những cảm nghĩ bất tịnh này. Ngay cả khi người khác khinh thường ta, gọi ta là kẻ trộm cắp, ta cũng nên kiểm soát lại và không nên buồn khổ. Đó là những ơn ích thực tế mà sự hiểu biết này mang lại.

Vì đang sống trong thế giới cảm giác nên ta cho rằng những ý niệm sai lầm và những phóng chiếu của tâm vô minh là thật. Chúng ta thường nghĩ nhìn được là tin được: “Tôi đã nhìn thấy cái đó thì nó phải thật chứ!” Lại có những người tin một cách say mê, mù quáng rằng triết thuyết của họ mới thực là lý tưởng cho xã hội, cộng sản hay tư bản, đều sai lầm hết, đều là ảo tưởng hết! Nếu chúng ta cứ tin theo kiểu này, chúng ta sẽ không bao giờ khám phá được tính không, nó sẽ ở xa mãi tận đâu đâu. Khi chúng ta nhận ra được quan điểm của chúng ta về thế giới này hoàn toàn là huyễn ảo, quan điểm của chúng ta về thực tại thì lờ mờ như một tấm màn hư ảo dầy đặc thì cái quan niệm sai lầm đó sẽ tự biến mất, cái còn lại là những nghịch lý của nó, đó là quan niệm đúng về tính không. Ở ngay giây phút vượt thoát ra ngoài tâm nhị nguyên, là lúc chúng ta kinh nghiệm tính không.

Vì thế, chúng ta có thể học được tính không trong từng giây phút, trong từng ngày. Ngũ quan của ta không thể rời khỏi những bám víu vào thế giới cảm giác, chính vì thế mà ta vẫn thường tin rằng bất cứ cái gì ta thấy được đều thật như nó xuất hiện. Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục nghiên cứu những nhận thức và những điều mà chúng ta tin thì chúng ta sẽ biết được rằng không có lúc nào mà chúng ta không học tính không, tiếp cận tính không. Đôi khi sách vở và triết học còn làm chúng ta rối mù hơn là giúp chúng ta hiểu được tính không; vì nếu chúng ta không biết làm cách nào để phối hợp chữ nghĩa với kinh nghiệm thì chữ nghĩa sẽ gây ra rất nhiều trở ngại, phiền toái cho tâm ta. Nếu ta ý thức được công việc này thì ngay một chữ cũng đủ cho ta hiểu trọn cả vấn đề.

Những người nào nghĩ rằng để hiểu được tính không, cần phải nghiên cứu hàng ngàn vạn tài liệu, phải nhớ từng chữ của những bài tập, thì họ sẽ bị nhàm chán và điên đầu. Rồi họ cho rằng, cố gắng hiểu tính không trong cuộc đời của họ là một điều không tưởng. Nhưng chúng ta có thể hiểu tính không một cách dễ dàng khi chúng ta nhìn nhận bất cứ điều gì, bất cứ quan niệm nào được nhận xét bởi một tâm vô minh thì đều huyễn ảo, đều không có thật, ngay cả những gì liên hệ đến nó. Mặc dù, trong vô lượng kiếp cái tôi của chúng ta đã thâu thập, đã bám víu vào những sự kiện mà bây giờ nó bắt chúng ta phải tin rằng “cái này thật, cái kia thật,” đó là nguyên nhân của đau khổ. Cho tới khi nào tâm ta còn vô minh thì ta sẽ nhìn thấy bất cứ một đối tượng nào cũng đều nằm trong vòng nhị nguyên, trong vòng phân biệt. Bất cứ đối tượng nào được cảm nhận theo kiểu này cũng đều là những cảm nhận không có thật.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể nói rằng chẳng cái gì có thực: “ Mũi tôi, lưỡi tôi, miệng tôi -- không có cái gì của tôi là thực.” Làm thế nào chúng ta có thể nói rằng không có ánh sáng, không có cái bàn? Cái kiểu lý luận phủ nhận này hoàn toàn sai. Tốt hơn, chúng ta hãy nhận xét: dù có hay không có quan niệm của tôi về cái bàn thì cái bàn vẫn có thực, lúc đó ta sẽ thấy rằng cái nhận xét của ta hoàn toàn không có thực. Hãy nhận xét, tất cả những quan niệm của chúng ta về bất cứ sự việc gì, chúng ta cũng đều nhận thấy rằng không có một cái nào tồn tại (thực có) như nó xuất hiện. Chúng ta luôn luôn nói về sự vật theo kiểu này: “ Nước Nepal như thế này, nước Mỹ như thế này, Aâu châu giống như thế này...vân...vân...” Chúng ta đang nói một điều vô nghĩa lý. Nước Nepal, nước Mỹ và Aâu châu mà chúng ta đang nói đều không có thật như vậy, rồi chúng ta lại nghĩ: “ Ồ, cái lớp thiền này khó quá!” hay “ tu tập theo kiểu này cũng mang lại đau khổ thôi! ” Chúng ta đang sống trong một thế giới mộng tưởng của những đối tượng huyễn ảo. Cái tâm mộng mị của chúng ta đang làm chúng ta đau khổ, 

Quan điểm này không có nghĩa là chúng ta hãy từ chối sự hiện diện của thế giới cảm quan. Điều này hoàn toàn không hợp lý. Chúng ta không nên quan tâm về một nước Nepal có hay không có; công việc của chúng ta là hãy kiểm chứng xem  sự diễn giải của tâm ta về một nước Nepal như thế nào? có thực hay là không? Vấn đề ở đây là, những ý niệm sai lầm của chúng ta đã xây dựng lên một quan điểm về một nước Nepal mà nó hoàn toàn không giống một chút nào với một nước Nepal thực ở ngoài thiên nhiên, ngay cả những vấn đề liên quan đến nó, chúng ta đã hoàn toàn bám víu vào nó. Cái tâm vô minh của tôi xây dựng về tôi như thế này: “ Thubten Yeshe như thế này, thế này, thế này....” -- nhưng điều này hoàn toàn không đúng một chút nào so với bản tính chân thật của tôi -- tôi đã bám víu vào những điều không có thực này, thật là tội nghiệp cho những phóng tưởng này! Chúng ta đã phát triển những bám víu qua muôn vàn kiếp sống, vì tin rằng nếu không có cái gì để bám vào thì sẽ bị mất mát, bị hụt hẫng. Khi chúng ta tin vào sự vật vô thường thì chúng ta sẽ bị mất, thí dụ, trong tiến trình của sự chết, ta thực sự sợ hãi vì ta cảm thấy mất tất cả.     

Để chứng nghiệm được chân tính, tính không, trước nhất chúng ta phải tìm kiếm và khám phá ra nó đang ở trong tâm của chúng ta. Nếu chúng ta tìm kiếm chân tính ở những hiện tượng bên ngoài như cây cối, cái bàn hoặc ở một người nào khác thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm được. Theo kinh nghiệm của các hành giả Aán độ và các vị Lạt ma Tây Tạng, tính không không bao giờ được chứng nghiệm theo kiểu này. 

Chúng sinh trong luân hồi tự nhiên là thích nhìn ra bên ngoài. Chúng ta thường nghĩ rằng, chúng ta có thể hiểu được thực tại bằng cách nhìn vào những gì người khác làm. Chúng ta cố gắng có được những tiến bộ bằng cách dòm ngó những người hàng xóm. Họ có cái gì? Làm sao họ có được những thứ đó? Chính những xu hướng này đã nói lên chúng ta không thể tìm được thực thể. Nếu đây là những thái độ của chúng ta thì chúng ta sẽ không bao giờ chứng nghiệm được tính không, mặc dù có học hỏi cả một đời.

Để khám phá nội tâm, để có được những chứng nghiệm nội tại của tính không, chúng ta phải bắt đầu bằng cách tìm kiếm bản lai diện mục của chúng ta. Khi đã khám phá được thực thể nội tại đó, chúng ta sẽ dễ dàng khám phá ra thực thể của thế giới hiện tượng này. Nguyên lý căn bản của tính không không đến từ trí thông minh, như việc nghiên cứu những lời dạy bảo của các vị thầy hay từ những buổi thảo luận tâm linh. Nếu chỉ qua những phương tiện đó, chúng ta không thể chứng nghiệm được tính không. Chúng ta cũng phải kiểm soát tâm để xác định được những ý niệm sai lầm, những quan điểm mù quáng và nên thực hành phương pháp thanh tẩy. 

Chân tính, tính không, nằm ngay ở tâm mà tại sao chúng ta chưa khám phá ra được, mặc dầu chúng ta đã học hỏi cả nhiều năm trời? Tại vì những rung cảm xấu xa, tội lỗi đang che kín, đang ngăn cản chúng ta làm việc này. Do đó, để cho chân tính được hiển lộ trong tâm, một điều vô cùng quan trọng khi học hỏi những lời dạy bảo về tính không và kiểm soát tâm là chúng ta nên tẩy rửa những chướng ngại bằng phương pháp thanh tẩy, như phương pháp thờ lạy tôn kính và phương pháp hợp nhất với Phật Kim Cang Tát Đỏa. Nói cách khác, để tinh tiến trong việc nghiên cứu tính không và thực chứng, chúng ta cần thực hành hai điểm: phát triển sự hiểu biết về tính không và thanh tẩy những căn bệnh tâm thần, như những ý niệm sai lầm, những quan điểm mù quáng mà chúng ta đã khám phá ra chúng khi chúng ta phân tích tâm. Sức mạnh của sự phối hợp này sẽ dẫn chúng ta trên con đường chứng ngộ tính không một cách dễ dàng hơn.

Ngày xưa, khi đại lạt ma Tây tạng Tsong Khapa đang nghiên cứu và phân tích tính không theo sự dạy bảo của phái Madhyamaka (Trung đạo), thì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát xuất hiện trước mặt ngài và nói: “ Không có ai trên quả đất này có thể dạy con tính không.” Vì thế,Lạt ma Tsong Khapa đã đi vào những hang cốc cô tịch, thực hành phương pháp thanh tẩy và thiền định, sau cùng ngài đã trực ngộ tính không, nó vượt hẳn ra ngoài những ý niệm về tính không theo quan điểm Trung đạo của Long Thọ. Như vậy, phương pháp Heruka Vajrasattva chẳng những vô cùng tuyệt diệu trong lãnh vực thanh tẩy mà còn giúp chúng ta khám phá chân tính một cách dễ dàng, nội tâm của chúng ta có một mãnh lực tự phá hủy những ý niệm sai lầm. 

Sở dĩ chúng ta phải bàn thảo dài dòng về tính không là để cắt nghĩa vấn đề nội qui y. Để thực hiện nghi lễ nội qui y một cách đúng đắn, chúng ta phải hiểu được tính không và thanh tẩy những quan niệm sai lầm của chúng ta về những phóng chiếu, về những vọng tưởng của bản ngã. Khi chúng ta nghĩ “ Tôi như thế này, thế khác, sinh ở đây, mang những đặc tính này... vân...vân...” là những trở ngại bắt đầu kéo đến. Những phóng chiếu của bản ngã là nguyên nhân của những vấn đề. Thí dụ, một người sinh ra trong một gia đình Do thái, ngay khi họ xác nhận họ thuộc chủng tộc Do thái là ngàn năm lịch sử đến với họ. Cho tới khi nào cái tôi còn đó, là những vấn đề, những trở ngại tự động xẩy ra.

Gía trị tuyệt vời của tâm lý học Phật giáo là nó có thể diệt trừ tận gốc rễ mọi vấn đề, chấm dứt hoàn toàn và mãi mãi tất cả những nguyên nhân của vấn đề. Như vậy, gía trị này hoàn toàn khác biệt với giá trị tâm lý học của Tây phương, tâm lý học Tây phương chỉ làm giảm bớt những triệu chứng của khổ đau, nhưng gốc rễ của khổ đau vẫn còn đó, khi thay đổi một sự kiện nhỏ trong một toàn thể rộng lớn lại là nguyên nhân cho một vấn đề khác nổi dậy. Chúng ta nên hiểu thấu vấn đề này và hãy biết ơn Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta một phương pháp tâm lý học tuyệt vời để điều trị tận gốc những vấn đề của con người.

Khi chúng ta thành tâm thực hành phương pháp tu tập này là chúng ta tự chuyển hoá chúng ta trong thần tính của Heruka, chúng ta nên hiểu rằng tất cả tiến trình chuyển hoá này đều được tự thể hiện qua sức mạnh của tính không trong chính tâm của chúng ta. Nó tuyệt đối không là gì cả nếu đem so sánh với sự kiện trở nên một cái gì, thí dụ, trở nên một cây nến. Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Chúng ta phải tuyệt đối hiểu thấu vấn đề này. Rất nguy hiểm nếu chúng ta không sáng tỏ vấn đề. Tôi nghĩ rằng những người Tây phương phải mất một thời gian rất dài mới hiểu được. Chúng ta bắt buộc phải nhìn ra được sự khác biệt này.   

Khi hiểu được tính không, chúng ta sẽ có một sức mạnh đem tâm chúng ta kết hợp làm một với đại lạc của chân tính, điều này hoàn toàn khác biệt với những phóng chiếu, với những vọng tưởng của bản ngã. Đại lạc này được chuyển hoá trong thần tính. Chúng ta có thể nhìn được sự khác biệt to lớn giữa sự trở nên Heruka Vajrasattva và trở nên một cây nến. Nếu chúng ta không có sự hiểu biết sâu thẳm về sự tự phát triển của phương pháp này thì khi có người phê bình sự thực hành của chúng ta “cái gì là sự khác biệt khi trở nên một Heruka hay một cây nến? Tốt hơn hết hãy trở nên một đoá hoa hồng, ít ra anh còn có mùi thơm!”, chúng ta sẽ cứng họng mà không trả lời được.  Rồi chúng ta bắt đầu nghi ngờ việc tu tập: “ Đây là một ý kiến hay. Tôi không trả lời được câu hỏi. Có lẽ toàn thể công việc thực hành của tôi sẽ không mang lại ơn ích gì mà chỉ cố gắng trở nên một cây nến.” Nếu đây là trình độ hiểu biết của chúng ta trong vấn đề này thì nó còn kém hơn cả cái chẳng có gì. Chúng ta nên hiểu sự khác biệt này. 

Hầu như tất cả chúng ta khi thực hành những phương pháp thiền định đều quán tưởng Đức Phật Thích Ca hay Quan Thế Aâm Bồ Tát. Nếu chúng ta có một chút hiểu biết về tính không, chúng ta sẽ quán tưởng được dễ dàng. Nếu không như vậy thì với những ý niệm sai lầm và những vọng tưởng vật chất sẽ là những trở ngại rất lớn cho chúng ta trong việc quán tưởng về sự chuyển hoá của chân tính vào thần tính Heruka. Nói một cách khác, nếu lúc nào chúng ta cũng ấp ủ, cũng mang hình ảnh Phật đi khắp mọi nơi, thì chính niềm tin tưởng này sẽ làm chúng ta dễ quán tưởng đến Ngài, rồi một ngày nào đó bất chợt Ngài sẽ hiện diện ngay trước mặt chúng ta. Như tôi đã từng giải thích ở trên, toàn bộ sự quán tưởng sẽ xuất hiện cùng một lúc, chúng ta không cần bắt đầu quán tưởng về một Đức Phật nhỏ rồi từ từ lớn dần, lớn dần thành một Đức Phật lớn.

Như vậy, con đường qui y theo phương pháp mật tông không dễ dàng chút nào. Nó khó hơn nếu so sánh với phương pháp qui y thông thường (bề ngoài) theo kinh sách mà chúng ta thường đọc. Tuy nhiên, một khi tâm chúng ta đã đạt đến một trình độ nào đó trong việc phát triển trí tuệ thì chúng ta có thể thực hiện phương pháp nội qui y một cách dễ dàng hơn. Chúng ta cũng nên hiểu rằng phương pháp nội qui y này không có gì đi ngược lại Phật Pháp. Phương pháp mật tông không phê bình phương pháp kinh điển là tốt hay xấu! Phương pháp khác biệt này được mang ra dạy bảo là vì tâm của chúng sinh có nhiều trình độ phát triển khác nhau. Đến đây tôi thiết nghĩ không còn gì phải giải thích thêm về sự qui y bí mật nữa.

PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

Tiếp theo nghi lễ qui y, chúng ta phát nguyện Tâm Bồ Đề theo phương pháp mật tông. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phát khởi lòng hăng say đạt quả vị Heruka càng nhanh càng hay, như thế chúng ta mới có đủ khả năng hướng dẫn những chúng sinh khác đến quả vị Heruka, cũng trong một thời gian rất ngắn. Làm  như vậy thì không bao giờ chúng ta còn lười biếng. Thí dụ, chúng ta sẽ làm gì nếu một con nai mẹ đang bị kẹt trong bụi lửa. Chúng ta không thể ngồi thoải mái mà nói: “ Hãy để nó cháy đi, tôi không có thời giờ để lôi nó ra bây giờ, tôi sẽ làm lát nữa.” Dĩ nhiên là chúng ta phải ngưng ngay những công việc mà chúng ta đang làm, không cần biết nó quan trọng đến thế nào, chúng ta phải vội vàng cứu con nai ra khỏi đống lửa ngay. Cũng giống như vậy, một khi chúng ta biết chúng sinh đang bị trói buộc và cháy trong lửa dục vọng, trong lửa mê lầm thì chúng ta không thể lười biếng được nữa. Chúng ta sẽ mau mau chuyển hóa tất cả những sinh hoạt trong đời sống như ăn, ngủ, làm việc vào Đạo Pháp. Ta sẽ không cho phép ta đắm chìm trong biển trầm luân một giây phút nào nữa.

Nhưng thực sự chúng ta vẫn lười biếng. Cái tâm xấu xa của chúng ta vẫn đẩy chúng ta vào cuộc sống đầy hưởng thụ: “ Hãy để mẹ tôi cháy, tôi sẽ cứu bà ấy ra sau khi tôi hưởng thụ xong.” Dĩ nhiên là chúng ta không nói những lời như vậy, nhưng những thái độ của chúng ta trong đời sống phản ảnh những cảm nghĩ ở nội tâm của chúng ta. Hãy thận trọng! Chúng ta thường có những thái độ này. Hãy tưởng tượng : Tôi đang ngồi thưởng thức những món cao lương mĩ vị trong một nhà hàng sang trọng thì học trò của tôi hối hả thông báo mẹ tôi đang bị cháy. Tôi vẫn ngồi thản nhiên trả lời, “ khoan đã, tôi còn ăn tráng miệng nữa!” Có phải qúy vị nghĩ ngay đến lòng ích kỷ của tôi phải không? Dĩ nhiên, lời nói trên hơi quá đáng nhưng nó cho chúng ta biết một chút về thái độ của chúng ta trong đời sống thường ngày.

Dĩ nhiên, chúng ta không nên tức giận, không nên quá xúc động trong vấn đề này. Nếu tôi khích động qúy vị thật mạnh, qúy vị sẽ chẳng muốn làm bất cứ điều gì mà chỉ muốn từ bỏ hết để đi vào rừng núi sâu mà thiền định. Nếu làm như vậy, chúng ta lại tạo thêm một vấn đề nữa rồi. Tôi không muốn làm qúy vị qúa hăng say, tốt hơn hết chúng ta nên từ tốn, thoải mái, nên tìm hiểu và giải quyết mọi vấn đề bằng trí tuệ. Như tôi nói ở trên, thường thường ở Tây tạng, sau những buổi học tập về phương pháp tu tập, các thiền sinh trở nên qúa hăng say, họ vội vã muốn rời lớp học, từ giã tu viện để đi vào những hang động trong núi sâu để sống và thiền định như  Milarepa. Thực ra, có rất nhiều người đã ra đi và dĩ nhiên, hầu hết đã quay trở về sau vài ngày.

Điều này cho chúng ta biết sức mạnh của Đạo Pháp như thế nào. Có nhiều người nghĩ rằng đây là quyền lực của Lạt ma có thể thay đổi đời sống của con người. Nhưng đây chính là sức mạnh của Đạo Pháp đã thay đổi tâm của con người. Đạo Pháp tác động tâm thức của chúng ta làm thái độ tâm linh của chúng ta thay đổi. Đó là sức mạnh của Đạo Pháp, chẳng phải bùa phép của Lạt ma. Chúng tôi không biết một chút huyền thuật nào!

Khi chúng ta thực tập diệu pháp Heruka Vajrasattva, chúng ta lặp lại lời tụng niệm 3 lần mỗi khi qui y và phát nguyện Tâm Bồ Đề. Tại sao phải lập lại như vậy?  Chúng ta làm như vậy để khẳng định rằng chúng ta có thời giờ để thiền và để thẩm thấu ý nghĩa của từng lời tụng vào tâm chúng ta. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ làm cho qua lệ và tâm hồn sẽ trở nên khô cằn, không có một chút rung cảm nào với những lời cầu nguyện.

Tuy nhiên, như tôi đã từng nhắc và khuyên bảo nhiều lần, qui y không phải đơn giản là lặp đi lặp lại những lời tụng niệm. Chúng ta có thể tụng lên bằng tiếng Anh, tiếng Tây tạng, tiếng Phạn...vân vân... hay chúng ta có thể im lặng. Một điều vô cùng quan trọng là hãy ý thức cái gì đang xẩy ra trong tâm của chúng ta. Nếu chúng ta có một niềm tin mãnh liệt và có một trí hiểu biết liên tục lâu dài thì đạt quả vị Phật chính là mục đích của chúng ta trên con đường tu tập. Nếu không như vậy, dù có niệm “ Nam mô Phật, nam mô Thầy ...” cả triệu lần cũng chẳng có gì xẩy ra. Thật là phí giờ và tốn công sức!

Theo truyền thống Phật giáo Đại thừa, chúng ta nên thực hiện nghi lễ qui y cả ngàn lần, tiến dâng mạn đà la (đạo tràng) cả ngàn lần, quì lạy cả trăm ngàn lần ...vân vân... Làm như vậy có nghĩa là chúng ta tu tập, qui y bằng tất cả thân khẩu và nhất là trọn vẹn cả tâm hồn của chúng ta. Nếu miệng lẩm bẩm “ Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng ” rồi nghĩ rằng chúng ta đã qui y xong thì rất có thể miệng thì qui y mà tâm thì uống coca cola. Như vậy chúng ta sẽ được những ơn ích gì khi tụng niệm những lời chú đó? Có thể một vài câu chú có những mãnh lực riêng, nhưng dầu vậy, chúng ta vẫn có quyền nghi ngờ nó không có ơn ích gì cả nếu tâm chúng ta còn bận rộn, bám víu vào những vấn đề khác mà không thực tâm chú ý vào lời tụng niệm.

Vì thế, qui y không dễ chút nào. Khi qui y tập thể, mỗi người lo chuyện riêng của mình, mỗi người để tâm một nơi khác nhau. Tùy theo sự hiểu biết và tùy theo ý thức mà mỗi người qui y khác nhau. Mặc dầu chúng ta tụng những câu chú giống nhau, lặp đi lặp lại những lời cầu nguyện giống y hệt nhau mà mỗi người có sự rung cảm, có những chứng nghiệm khác nhau, điều này nói lên mỗi người trong chúng ta có những kinh nghiệm, có những tâm cảm khác nhau.

Khi bắt đầu thực hành Tâm Bồ Đề, chúng ta sẽ biết có rất nhiều đường để cứu độ chúng sinh. Bổn phận của Bồ Tát là thực thi sáu hạnh nguyện (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.) nhưng phải cần một thời gian rất lâu để những hạnh nguyện này thực sự thấm nhập vào tâm hồn chúng sinh. Nó không có kết quả liền trong một ngày, một giờ. Khi thực hành những hạnh nguyện, chúng ta sẽ cảm thấy chúng ta đã làm được một công việc hữu ích trong cuộc đời chúng ta. Mỗi khi ta cảm thấy ta đã không làm được công việc gì hữu ích, không giúp gì được cho chúng sinh thì ta phải biết rằng ta đã không từ bi chút nào. Một khi ta chỉ để ý đến những vấn đề riêng tư thì ta càng trở nên ích kỷ hơn, hẹp hòi hơn, cô đơn hơn. Chúng ta sẽ bị ám ảnh “ Tôi có quá nhiều vấn đề... trở ngại này... khó khăn kia... vấn đề của tôi... vấn đề của tôi...” và như vậy chúng ta sẽ không còn để ý đến những vấn đề của người khác chung quanh chúng ta nữa. Kết quả là ta không còn một chút từ bi nào dành cho họ.

Những ám ảnh đó là những nguyên nhân đem đến sự tự hủy hoại mình. Đừng bận tâm về họ vì ta nghĩ rằng cuối cùng họ sẽ hiểu được những vấn đề của họ chăng? Những người muốn tự tử không hiểu một chút gì về những vấn đề của họ. Đó là lý do họ tự giết mình. Cái nhìn của họ quá hẹp hòi, quá chật hẹp, quá nhỏ bé. Tự tử không bao giờ là kết quả của thực tế.

Trong thời cổ Aán độ, có một ông vua giết cha của mình, khi ông trực nhận ra điều ông đã làm, ông bắt đầu hối hận, bắt đầu hối tiếc, buồn đến độ ông không còn dám nghĩ đến bất cứ điều gì khác. Cuối cùng, ông ta đến với Phật, Phật hỏi ông “Giết cha của anh có đáng giá không.” Tự nhiên, ông xúc động, tâm ông bắt đầu tỉnh lại. Oâng suy nghĩ sâu xa về câu nói của Phật, và cuối cùng ông ngộ ra rằng mục đích chính của lời Phật dạy là ông nên giết đi cái tâm bám víu và cái tâm lường gạt, chính tâm vọng tưởng đã đem ông vào cuộc sống luân hồi này. Qua sự thực chứng đó, ông đã trở nên một la hán. Điểm quan trọng ở đây là ông ta đã quá bận tâm, đã bị ám ảnh quá nhiều bởi những vấn đề riêng, những cảm xúc vô minh này đã tràn đầy tâm ông đến nỗi không còn một chỗ trống nào cho sự bình an thanh thản. Nếu tâm chúng ta quá hẹp hòi, quá nhỏ bé thì sẽ không còn một chỗ nào cho cả chính chúng ta, còn nói chi dành cho người khác?

Chiếc-bình-thiền-định : thực tập chín vòng hơi thở

Sau khi qui y và đối tượng qui y đã chảy tan thành ánh sáng rồi hòa tan vào ta, ta hãy tập trung thiền định vào một điểm là Heruka Vajrasattva hay Vajradhara (tùy theo sự chọn lựa đối tượng để quán tưởng và qui y của mỗi người --Dg) cho đến khi nào ta trở nên làm một với Ngài. Nếu những ý tưởng nhị nguyên bắt đầu phát khởi, hãy phát nguyện Tâm Bồ Đề, như tôi đã giải thích ở trên.

Bắt đầu từ điểm này của diệu pháp, ta không còn quán tưởng như những hình thức thông thường; thay vì như vậy, vì đã trở nên làm một với Heruka nên ta xuất hiện như Heruka hoặc Vajradhara. Do đó, ta không còn nghĩ rằng “ tôi là thế này...thế khác...” hay tưởng tượng đây là thể xác được tạo bởi xương, thịt, máu nữa...-- nhưng cũng đừng bám víu vào những hình tượng thần thánh này. Điều này có nghĩa là ta quán tưởng ta là Heruka nhưng đừng phát triển lòng tin ta là Heruka (nếu bám víu vào đối tượng, chấp vào đối tượng sẽ tạo cho ta chấp vào cái tôi, kiêu căng ngã mạn - Dg). Sau này, ta sẽ làm giống như vậy khi ta tụng niệm mật chú trong lúc thực hành phương pháp sức mạnh của sự điều chỉnh.

Bây giờ, trong lúc quán tưởng mình là thần linh, ta hãy thực hiện phương pháp chiếc-bình-thiền-định. Theo phương pháp này, hãy chỉ thở bằng mũi, miệng ngậm lại. Thở vào và thở ra chậm chậm, tự nhiên, hoàn toàn không đứt quãng, nhưng khúc giữa của hơi thở hơi mạnh hơn khúc đầu và khúc cuối. Nó giống như hình dạng của hạt gạo, hai đầu nhỏ lại, khúc giữa phình ra một chút. Đừng sử dụng cách thở gò bó mà ta thường thấy trong một vài phương pháp của Aán độ giáo.

Có rất nhiều kênh thần lực (psychic energy channels) trong con người chúng ta. Ở đây chúng ta chỉ để ý đến ba kênh chính (ba đường kinh mạch chính -Dg). Kinh mạch trung tâm là một ống sáng trong suốt to khoảng ngón tay út, chạy ở giữa cột xương sống thẳng từ luân xa trên đỉnh đầu (luân xa 7, huyệt bá hội-Dg) xuống luân xa dưới cùng (luân xa 1, huyệt trường cường -Dg). Ở bên phải và bên trái của kinh trung tâm này cũng có hai ống sáng nhưng nhỏ hơn ống giữa, chúng chạy từ hai lỗ mũi lên luân xa đỉnh đầu, ở đây chúng uốn vòng xuống như cái cán của cây dù, rồi chạy xuống dọc theo hai bên của kinh trung tâm, đến một điểm cách phía dưới rốn chừng 4 ngón tay chúng chạy vòng vào bên trong rồi nhập vào kinh trung tâm.

Hãy quán tưởng những kênh thần lực này, hơi thở thứ nhất khí vào qua lỗ mũi trái: chậm chậm, từ từ mạnh, rồi chậm chậm. Quán tưởng khí đi vào kinh mạch bên trái, tràn đầy, đi xuống rồi bắt vào kinh mạch bên phải, đi trở lên và ra ở lỗ mũi phải. Hãy đẩy khí này ra bên ngoài hấp lực của trái đất, bên ngoài thái dương hệ, ra đi mãi mãi, mang theo tất cả những nguồn năng lượng tiêu cực như những bám víu, những tham vọng, những nghiệp chướng của chúng ta. Hãy làm như vậy 3 lần. 

Hãy tập trung và theo dõi sự chuyển động của khí trong đường kinh mạch này, hãy để tâm trở nên làm một với sự di chuyển của luồng khí lực này. Đừng nghĩ đến những vấn đề nào khác. Đừng cho rằng những đường kinh mạch này là thể chất được cấu tạo bằng xương thịt, mà hãy nhớ rằng ta đang quán tưởng chính ta đang là thần linh và những kinh mạch này là những đường thần lực. Nhưng ta cũng đừng nắm giữ, đừng bám víu  vào cái thể tinh thần này mà hãy thanh lọc nó như đã trình bày ở trên. Hãy lặp lại sự thực tập này 3 lần cho lỗ mũi bên phải, khí đi vào lỗ mũi phải và đi ra bằng lỗ mũi trái. Khí đi xuống bằng kinh mạch bên phải rồi chạy ngược lên bằng kinh mạch bên trái, đẩy ra ngoài không gian vô tận tất cả những ám chướng, tham lam, sân hận và ngu si, có nghĩa là tất cả những gì ta không muốn có ở trong ta. 

Rồi bây giờ hít vào bằng cả hai lỗ mũi, khí đi vào cả hai đường kinh mạch bên phải và bên trái tới cái điểm mà nó nối với đường kinh mạch trung tâm (dưới rốn 4 ngón tay). Để giúp ta theo dõi dễ dàng, ta có thể nuốt nước miếng khi khí đi xuống. Khi khí đi đến chỗ kinh mạch trung tâm, hãy hóp bắp thịt khu xương chậu lại rồi dẫn luồng khí lực đi ngược lên, từ luân xa cuối cùng vào đường kinh mạch trung tâm, lên luân xa hoả đại (luân xa 3, vùng đan điền -Dg), ở đây nó sẽ gặp và hoà tan vào khí lực từ trên xuống. Một luồng khí an lạc sẽ xuất hiện ở đây, hãy giữ hơi thở và tập trung vào điểm này. Điều này rất quan trọng. Cho tới khi nào không còn cảm thấy thoải mái thì hãy thở ra một cách tự nhiên bằng mũi. Nhưng thay vì thở ra ngay, khí mà ta đã giữ sẽ đi trở lên và hòa tan trong đường kinh mạch ở trung tâm. Hãy làm như vậy 3 lần.

Việc thực tập này rất hữu ích trong khi phát huy nguồn năng lượng an lạc trong hệ thần kinh của chúng ta. Kinh nghiệm an lạc là một phần quan trọng của phương pháp thực hành mật tông. Do đó việc thực tập này vô cùng cần thiết và mang lại nhiều ơn ích. Đây là suối nguồn an lạc, xẩy ra trong tâm của chúng ta - chính tâm của chúng ta, không phải của ai khác - nó được chuyển hoá vào tòa sen cùng với chủng tử HUM khi chúng ta tiếp tục thực hành diệu pháp này.

Như vậy, chắc chắn một điều là chúng ta sẽ được an lạc và thanh thản khi đến đoạn cuối của việc thực tập chiếc-bình-thiền-định này. Tâm của chúng ta sẽ không còn cơ hội để nghĩ đến những hoạt động mờ ám hay trở về con đường xưa đau khổ nữa. Chúng ta có thể kiểm soát được tâm của chúng ta và chúng ta có thể chọn bất cứ đối tượng thiền định nào mà chúng ta muốn. Chúng ta không thể thiền nếu tâm còn bị quấy nhiễu, còn bị lay động. Ngòai ra còn một ơn ích khác do công việc thực tập này mang lại là nó sẽ phá hủy bản tính hung hăng, kiêu ngạo, thích khoe khoang của chúng ta; nó sẽ giảm bớt những mê tín dị đoan và giúp chúng ta vững mạnh trên con đường hoàn thành phương pháp tu tập này.

Do đó, điều quan trọng để kinh nghiệm sự an lạc là chúng ta nên giữ hơi thở và tập trung nó tại luân xa 3 (khí tụ đan điền -Dg). Hãy chú ý thường xuyên đến niềm an lạc. Niềm an lạc này đi ngược lại với những cảm giác thích thú thường tình mà chúng ta thường kinh nghiệm trong đời sống vô minh hàng ngày, chúng chỉ là những kinh nghiệm vô ý thức. Tại sao hai kinh nghiệm này lại khác nhau? Tại vì một đến từ trí tuệ, một đến từ vô minh. Một trở thành con đường giải thoát, còn một đưa đến đau khổ, bám viú, tham lam. Qua sự thực tập này, chúng ta có thể khám phá ra chúng ta là ai, cũng không cần tôi phải nói, qúy vị sẽ tự biết.

Quán tưởng nguồn năng lực hòa tan trong kinh mạch trung tâm khi chúng ta thở ra là hình ảnh của công việc thực hành phương pháp luyện nguồn tâm hỏa kundalini. Vì thế, hãy thận trọng khi làm việc này và đừng nghĩ rằng chúng ta sẽ tiêu phí khí lực trong lúc thực hành. Sau khi đã thực tập xong 9 vòng hơi thở của chiếc-bình-thiền-định, chúng ta có thể tiếp tục bước vào con đường chính của phương pháp tu tập.    

Phần 4

PHẦN CHÍNH CỦA PHƯƠNG PHÁP TU TẬP

 

 Mở đầu sự quán tưởng

Trên khoảng không, cách đỉnh đầu khoảng 6”, xuất hiện chủng tử PAM, sẽ biến hóa vào đóa sen ngàn cánh. Trên đỉnh đóa sen này xuất hiện chủng tử AH, sẽ biến hóa vào vầng nguyệt trắng. Trong trung tâm của vầng trăng có chủng tử HUM. Đột nhiên, chủng tử này biến hóa thành chày kim cang trắng ở giữa có chủng tử HUM. Aùnh sáng từ chày kim cang và chủng tử Hum tỏa sáng khắp mười phương để hoàn thành hai mục đích. Cả vũ trụ chan hòa vào ánh sáng. Rồi ánh sáng thu hồi vào chủng tử HUM trong chày kim cang. Chủng tử HUM và chày kim cang tan hòa vào ánh sáng rồi chuyển hóa thành Ngài Kim Cang Tát Đỏa.

Thân Ngài màu trắng, một mặt và hai tay. Ngài cầm chày kim cang ở tay phải, tay trái ngài cầm chiếc linh (chuông nhỏ). Ngài ngồi trong tư thế kiết già, tay bắt ấn. Nữ phật tính của Ngài, Dorje Nyem-ma, ôm choàng thân Ngài. Nữ phật tính màu trắng, một mặt và hai tay; tay phải cầm dao hình cong, tay trái cầm ly hình sọ người.

Cảø hai mặc thiên y và đeo nữ trang, chủng tử OM trên luân xa đỉnh đầu, chủng tử AH ở luân xa cổ, chủng tử HUM ở luân xa trái tim. Ánh sáng từ chủng tử HUM ở trái tim Kim Cang Tát Đỏa tỏa sáng, thỉnh cầu nguồn đại lạc của các chư Phật trong mười phương.

Trên đỉnh đầu, xuất hiện chủng tử PAM mầu trắng rồi được biến hóa trong hoa sen trắng ngàn cánh. Trên hoa sen, xuất hiện chủng tử AH, rồi được biến hóa vào vầng trăng sáng. Vầng trăng này không giống như vầng trăng đã được khám phá bởi các khoa học gia mà là ánh sáng tuyệt đối. Trên vầng trăng, ngay ở giữa, xuất hiện chủng tử HUM, sẽ được chuyển hóa vào chày kim cang trắng, ở giữa chày có chủng tử HUM. Chày kim cang tượng trưng cho sự bền chắc không thể hủy diệt. 

Từ chày kim cang, đặc biệt từ chủng tử HUM ở giữa chày, ánh sáng tỏa ra khắp mười phương, bao trùm cả vũ trụ. Ánh sáng được tỏa ra để hoàn thành hai nhiệm vụ: cúng dường Chư Phật và Chư Bồ Tát, đồng thời ban phước lành cho tất cả chúng sinh để thanh tẩy thân khẩu và ý. Tất cả muôn loài chúng sinh hữu tình và vô tình tan hòa vào ánh sáng, rồi lại kết tụ vào chủng tử HUM ở trung tâm chày kim cang.

Chày kim cang cũng tan hòa trong ánh sáng, rồi đột nhiên Ngài Kim Cang Tát Đỏa xuất hiện. Ngài có thân hình màu trắng, một mặt và hai tay. Ngài cầm chày kim cang ở tay phải, tay trái ngài cầm chiếc linh. Ngài ngồi trong tư thế kiết già, hai bàn tay bắt ấn quyết.

Ngài ôm choàng nữ phật tính Dorje Nyem-ma (Tạng ngữ, có nơi gọi là Phật Bà, Phật mẫu, consort, phối ngẫu tính, dù gọi là gì, dịch thế nào đi nữa cũng không diễn tả hết được ý nghĩa BẤT NHỊ của PHẬT TÍNH, đây chỉ là hình ảnh, một biểu tượng của bất nhị - Dg), nữ phật tính cũng màu trắng và ngồi trong tư thế ôm choàng Ngài Kim Cang Tát Đỏa. Nữ phật tính một mặt và hai tay, tay phải cầm dao, tay trái cầm ly rượu thần hình sọ người. Con dao tượng trưng cho trí tuệ, mục đích để cắt đứt những tạp niệm và những bám víu vào những thú vui vật chất. Ly rượu thần tượng trưng cho sự an lạc mà ngài đạt được trong giác ngộ, đây không phải là người đàn bà say sưa của thế gian. Mặc dù đây chỉ là một hình ảnh tượng trưng nhưng nó tạo cho chúng ta một ấn tượng rất sâu đậm.

Nếu chúng ta đi ngược dòng lịch sử, chúng ta sẽ biết người đàn bà trong quá khứ bị coi như không có giá trị nào cả, mà chỉ là một người phục vụ cho đàn ông. Nhưng thực ra không phải vậy. Truyền thống tâm lý học Phật giáo, nhất là mật tông, chỉ cho chúng ta biết một cách vô cùng rõ ràng rằng đàn ông và đàn bà như nhau, cả hai đều có khả năng khám phá phật tính nằm trong tâm mình. Xa hơn nữa, đàn bà còn có một tiềm lực mãnh liệt để phát triển nguồn sức mạnh của trí tuệ và có thể chia sẻ nguồn an lạc đó cho những yogi (nam). Cùng lúc đó, yogini (nữ) cũng nhận lại nguồn an lạc từ yogi. Do đó, nếu chúng ta có những kinh nghiệm nội tâm về sự tượng trưng của nữ phâït tính, thì mỗi khi chúng ta nhìn thấy tranh ảnh của Đại thừa chúng ta sẽ cảm nhận được những nguồn an lạc, chiều sâu của những cảm nghiệm này tùy theo tâm của mỗi người. Thực ra, những bức tranh này cho chúng ta một sự cảm thông ở bên ngoài ngôn ngữ.

Tâm vô minh và tâm giới hạn của chúng ta luôn luôn nghĩ rằng: “ Tôi không thể làm được bất cứ việc gì ... tôi không thể làm cái này, tôi không thể làm cái kia...,” điều này hoàn toàn sai lầm. Chúng ta có thể làm bất cứ điều gì chúng ta muốn !!! Khi sinh ra chúng ta đã mang sẵn nhiều khả năng: chúng ta có thể suy nghĩ, chúng ta có thể truyền đạt những tư tưởng của chúng ta cho những người khác và chúng ta có thể phát triển một cách không giới hạn những tài năng của chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ chúng ta lười biếng, chúng ta sẽ lười biếng. Chúng ta sẽ phung phí cuộc đời và sẽ chẳng làm gì cả. Nghĩ như vậy chúng ta sẽ tiếp tục nhận chìm chúng ta xuống. Thực sự, chúng ta không như vậy, chúng ta có khả năng làm được nhiều thứ !

Phương pháp mật tông sẽ chỉ cho chúng ta những khả năng tiềm ẩn sẵn có trong chúng ta và giúp chúng ta ngăn cản những tư tưởng tiêu cực, những tư tưởng này chỉ làm cho chúng ta buồn nản mà không thực hiện được điều gì tốt đẹp trong cuộc đời. Chúng ta đã có nhiều cơ hội để gặp gỡ và học hỏi những lời dạy bảo cũng như những sự hướng dẫn thực hành. Chúng ta hãy tận dụng những cơ hội và những hoàn cảnh thuận tiện này.

Nếu một người bình thường nhìn bức tranh Dorje Nyem-ma cầm ly rượu thần hình sọ người, tượng trưng cho suối nguồn an lạc, biểu tượng cho sự chứng đắc chân tính, họ sẽ nghĩ rằng đây là một ma nữ uống máu. Họ sẽ kinh tởm và sợ hãi, họ sẽ nghĩ rằng đây là một chiếc sọ đầy máu người và cho rằng Đại thừa Phật giáo tin vào sự hiến tế nhân mạng. Họ còn sợ bị chúng ta cắt cổ ! Nếu họ nhìn bức tranh Yamantaka mang bộ xương người, có lẽ họ sẽ sợ đến mang bệnh; chính lòng mê tín của họ tố cáo Yamantaka giết người. Tuy nhiên, ngược lại với lòng mê tín đó, đây là những biểu tượng cho chúng ta một ý nghĩa vô cùng thâm sâu mà nó phản ảnh một sự thực chứng cao độ.

Trong diệu pháp Heruka Vajrasattva hay trong 6 bước tu tập của một đạo sĩ, có một phần mà chúng ta phải quán tưởng chúng ta là Kim Cang Tát Đỏa đang ôm choàng nữ/nam phật tính (phối ngẫu tính). Hiện tại trong các tu viện, các vị sư nam và sư nữ đã thề nguyền không có vấn đề đụng chạm thân xác và có thể hiểu rằng họ không bao giờ thực hành phương pháp này với nhau. Tuy nhiên, nữ phật tính ở đây không phải là một người đàn bà bằng xương bằng thịt mà là một âm tính (năng lượng âm) trong tam ma địa (đại định), và do đó, họ được phép hoà nhập trong lúc thiền định. Phái nữ có thể quán tưởng mình là Kim Cang Tát Đỏa hay là người đang ôm Vajrasattva là Dorje Nyem-ma, một người sẽ trở nên làm một với Heruka Vajrasattva và hoà tan trong đại trí tuệ an lạc của Ngài. Như vậy là chúng ta chuyển hoá những nguồn năng lượng xấu thành Trí Bát Nhã của Vajrasattva.(từ đây sẽ không dịch là Kim Cang Tát Đỏa nữa mà sẽ giữ nguyên âm Vajrasattva cho phù hợp khi tụng mật chú – Dg)

Mục đích của việc thực tập này là để phát triển Trí Bát Nhã Tánh không. Điều này hoàn toàn khác với sự ôm ấp bình thường của đôi trai gái. Để có thể hòa nhập trong sự tỉnh thức của an lạc, một điều vô cùng quan trọng là phải từ từ phát triển tâm tỉnh thức. Do đó, điều trước tiên là những người tu sĩ nam nữ nên cắt đứt tất cả những liên hệ thể xác mà chỉ thực tập phương pháp này với âm/dương tính tam-ma-địa cho đến khi nào đạt được những thực chứng cao hơn. Chỉ khi nào họ đã phát triển tâm thức ở mức độ cao họ mới có thể có những liên hệ bình thường, nhưng cũng không phải là những sự thỏa mãn phàm tục. Phải một thời gian thật lâu chúng ta mới có thể đạt đến đó, mà cũng không cần thiết cho chúng ta phải thực tập như vậy. Vì thế, chúng ta không cần giải thích thêm chi tiết ở đây.

Điểm cần phải nhấn mạnh ở đây là biểu tượng ôm choàng đó giúp người thực tập phát triển Trí Bát Nhã. Nếu phái nữ có thể làm như vậy, không sao, nhưng nếu nó ảnh hưởng đến phái nam như là một sự khêu gợi, ngã lòng, chán nản thì tất cả những tâm trạng đó là tâm trạng phàm tục. Dĩ nhiên nó cũng ảnh hưởng đến phái nữ khi quán tưởng hình ảnh nam.

Heruka Vajrasattva và nữ phật tính của Ngài mặc thiên y và đeo những bảo châu tuyệt đẹp. Dĩ nhiên, “tuyệt đẹp” ở đây có tính cách tương đối. Cái gì làm cho một người ở nước này gọi là đẹp thì lại xấu ở nước kia và ngược lại. Đối với triết lý nhà Phật thì đẹp, xấu, tốt, dở tùy theo tâm của chúng sinh. Cái gì là nữ trang và cái gì không phải là nữ trang đều bắt nguồn từ tâm.

Chúng ta có thể hiểu cái điều đơn giản này khi nhìn vào sự phát triển văn hóa của người Tây phương và vào những thời điểm mà người ta cho là đẹp hay xấu. Qúy vị có thể hiểu điều này rõ hơn tôi. Tôi chỉ có thể biết được những điều này qua sự học hỏi triết lý Phâït giáo; còn qúy vị đã trực tiếp biết và quan sát chúng. Chúng ta chỉ cần quan sát những người làm ở những cửa hàng, họ thay đổi cách trang trí, cách trưng bày hàng hóa mỗi ngày. Cái gì đẹp của ngày hôm qua, hôm nay đã xấu rồi! Qúy vị thật may mắn! Vì qúy vị chứng nghiệm được lời dạy bảo của Phật ngay ở đó, nó luôn luôn xảy ra chung quanh qúy vị. Qúy vị vừa được hưởng đời vừa được hiểu chân lý.      

Như vậy, người từ những quốc gia khác nhau sẽ có những quan niệm về cái đẹp khác nhau; có thể qúy vị không đồng ý với tôi về lối diễn tả vẻ đẹp của Vajrasattva và nữ phật tính cuả Ngài. Tuy nhiên, qúy vị có thể quán tưởng vẻ đẹp và đồ trang sức của các Ngài tùy theo ý kiến riêng của qúy vị. Nhưng những biểu tượng trang sức là những quán tưởng nội tại và do đó nên quán tưởng theo sự diễn tả trong bài thực tập này. Điều quan trọng là chúng ta không nên bỏ nó và không quán tưởng đến nó, vì chúng ta thường nghĩ rằng nó qúa phức tạp cho việc quán tưởng.

Heruka Vajrasattva có tất cả 6 loại trang sức khác nhau, nữ phật tính của ngài có 5 loại. Vật trang sức thứ 6, màu sáng trắng, chính là thân thể của Ngài, nó nói lên Ngài đã đạt nguồn chân hỏa (kundalini). Nguồn năng lượng chân hỏa này không lem luốc đầy người như chúng ta thường thấy ở những ông đạo sĩ Aán độ có một lớp tro trắng trên thân thể họ. Có những ông trông yếu xìu chẳng có một chút năng lực nào, dương tính của họ không hoạt động. Nguồn năng lượng nội hỏa của Vajrasattva hoạt động mãnh liệt nên thân thể Ngài sáng, điều này chứng tỏ Ngài đã đạt nguồn chân hỏa (kundalini), cũng là nguồn đại lạc. (Tôi nói “nguồn năng lượng nội hỏa” thay vì chỉ nói “ nội hỏa” để qúy vị đừng hiểu lầm đây là sức lực bình thường của phái nam).

Cả Heruka Vajrasattva và nữ phật tính của Ngài đều có chủng tử OM trên đỉnh đầu (luân xa 7), chủng tử AH ở cổ họng (luân xa 5), và chủng tử HUM ở trái tim (luân xa 4). Chủng tử HUM ở trung tâm của vầng trăng. Vầng trăng rất tròn và là biểu tượng của niềm đại lạc, của Trí Tuệ. Trong những đêm trời nóng, chúng ta ra ngắm vầng trăng tròn đầy tự nhiên chúng ta cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Đó là một trong những lý do tại sao vầng trăng lại được chọn làm biểu tượng cho sự an lạc. Chung quanh vầng trăng là những mật tự của Heruka Vajrasattva, được đọc theo ngược chiều kim đồng hồ. Thường thường trong những phương pháp mật tông, mật tự được đọc theo chiều kim đồng hồ, từ trái qua phải; nhưng ở đây lại đọc ngược chiều kim đồng hồ, từ phải qua trái, điều này nói lên Heruka Vajrasattva đặc biệt để ý đến nguồn năng lượng âm hơn là dương. Lý do này nói lên phái nữ dùng năng lượng bên trái của cơ thể hơn là bên phải, trong khi đó phái nam lại dùng năng lượng ở bên phải  của cơ thể nhiều hơn là bên trái.       

Khi Phật tử đi vòng quanh một ngôi tháp, họ thường đi theo chiều kim đồng hồ, nên ngôi tháp bao giờ cũng ở bên tay phải của họ. Là một người thực hành phương pháp tính âm của mật tông, chúng ta nên sáng suốt trong từng sự việc chúng ta làm, chúng ta có thể đi theo hướng ngược lại. Những người không có một sự hiểu biết sâu rộng sẽ cho là chúng ta làm sai và thường thường họ làm khác đi; nhưng những người có một tâm cởi mở, hiểu biết rộng rãi, họ sẽ thông cảm những sự hiểu biết của chúng ta về mật chú. Tuy nhiên, chúng ta không nên khoe khoang, mà nên khiêm tốn, đơn sơ và hành động đúng theo nghi thức được dạy bảo.

Từ chủng tử HUM ở tim của Heruka Vajrasattva, có rất nhiều tia sáng chiếu ra muôn phương để thỉnh cầu phước tuệ từ các Chư Phật rồi những tia sáng này lại trở về tim và hòa tan trong chủng tử HUM. 

   
Lễ cúng dường Heruka Vajrasattva

OM KHANDA ROHI HUM HUM PHAT
OM SVABHAVA SHUDDAH SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO  HAM

Tất cả đều vắng lặng. Chủng tử AH xuất hiện trong Tánh Không rồi biến thành một ly hình sọ người rất lớn đựng 5 loại thịt và 5 loại rượu thần. Chúng hòa tan vào nhau thành một biển trí lực siêu việt.

OM AH HUM HA HO HRI

Tiếp theo chúng ta niệm mật chú để thanh tẩy và cúng dường, đồng thời nguyện cho những vật cúng dường không mất đi những phẩm chất của nó (OM KHANDA...) , giống như sự cúng dường từ nội tâm. Nhớ rằng chúng ta đang là hình ảnh của Heruka Vajrasattva nên chúng ta ban phước và độ trì cho những hiến vật này.

Rồi hãy tụng chú Tánh Không (OM SVABHAVA ...). Tất cả trở thành Tánh Không. Với mật chú này và với một quan niệm đúng đắn về Tánh Không, chúng ta chuyển hóa tất cả những vật được dâng hiến và toàn thể các hiện tượng trong vũ trụ thành trí tuệ và an lạc. Trong tinh thần bất nhị, xuất hiện chủng tử AH trắng sáng, rồi biến thành một ly hình sọ vĩ đại. Bên trong chứa đựng 5 loại thịt và 5 loại rượu thần. Chúng hòa tan vào nhau rồi biến thành một đại dương của an lạc và trí tuệ. 

Sau đó tụng OM AH HUM HA HO HRI ba lần. Ở đây chúng ta thanh tẩy những năng lượng không thanh khiết của những phẩm vật dâng hiến để trừ khử những mùi vị, màu sắc dơ bẩn và để thăng tiến chúng.

Tôi nghĩ rằng rất nhiều người trong chúng ta đã có một số kinh nghiệm về Tánh Không trong khi thiền định, nhưng trí phân biệt của chúng ta tự động nắm bắt vấn đề mỗi khi có một ý niệm xuất hiện, để rồi chúng ta lại trở về những thói quen của đời sống thường ngày. Nhưng khi chúng ta đã đạt được niềm an lạc của thần trí thì nó lại hoàn toàn khác, bất kể những gì chúng ta nhận được, tâm của chúng ta vẫn không hề bị lay chuyển, vẫn không bị vướng mắc và nắm giữ; ngược lại chúng ta hoàn toàn an lạc, chúng ta nhận ra được tuyệt đối tính của tất cả những hiện tượng trong vũ trụ và cảm nghiệm được chúng trong niềm an lạc tự nhiên.

OM VAJRASATTVA ARGHAM...SHABDA PRATICCHA HUM SHAVA

Như vậy là chúng ta đã thực hiện 8 lần dâng cúng Heruka Vajrasattva. Chúng ta cần có trí tuệ để biến chúng thành hoàn mỹ, tuyệt diệu; chúng ta cần một sự hiểu biết thật sâu sắc để hiểu thấu vấn đề. 

Bình thường những người du lịch khi nhìn thấy những ảnh tượng trong chùa hay trong các tu viện tại Tây tạng, họ đều phê bình bằng những cảm quan bề ngoài theo những thói quen sẵn có. Họ thực sự tin rằng chúng ta dâng cúng thịt, giấy, nước và quần áo cho những hồn ma. Đôi khi họ còn bực mình khi thấy những ảnh tượng được xếp đặt chung với những hình tượng kỳ quái khác và họ không thế nào hiểu được tại sao lại có những người đi dâng cúng cho những hình tượng này. Hãy thận trọng: nếu đức tin của chúng ta quá yếu, nếu trí tuệ của chúng ta quá mù mờ thì chúng ta cũng sẽ nghĩ như vậy.

Do đó, dâng cúng phẩm vật là một cách thực hành mang lại nhiều ơn ích. Đây là cách để đối trị những sự lười biếng, đạo đức giả và đầu óc duy lý: “ôi, đạo tại tâm mà”, rồi chẳng bao giờ dám bỏ ra một xu để mua phẩm vật. Tôi mong rằng quý vị hiểu những điều tôi muốn nói. Khi chúng ta dâng cúng phẩm vật, dù chỉ là một cây nến, bằng tất cả tấm lòng chân thành, hiểu biết và cung kính thì nó có giá trị như là dâng hiến trọn vẹn tất cả những gì chúng ta có trong toàn thể vũ trụ này. Nhưng vì chúng ta thường có những ý nghĩ nhỏ mọn nên không bao giờ chúng ta có thể tưởng tượng được chúng ta dâng cúng cả vũ trụ. Vì thế tám lần dâng cúng tạo cho chúng ta những điều căn bản để dễ dàng chuyển hóa tâm thức hòa nhập vào vũ trụ.

Chúng ta không nên dâng cúng theo thói quen thông thường kiểu thế gian; thay vì làm như vậy, chúng ta hãy chuyển hóa tất cả những phẩm vật vào sự an lạc thanh tịnh mà chúng được thị hiện như là nước, ánh sáng, âm thanh, mùi vị và cảm giác. Qua sự thực hành này, chúng ta có thể chuyển hóa tất cả mọi sự vật trên thế gian này thành niềm an lạc tuyệt diệu, mặc dù chúng mang bất cứ hình thái, sắc tướng bên ngòai nào. Khoa học đã chứng minh rằng tất cả năng lượng đều là sự biến đổi trạng thái không ngừng nghỉ; một năng lượng luôn luôn biến chuyển thành một năng lượng khác. Thí dụ như năng lượng của mặt trời tác dụng hỗ tương trên cây cối và những đóa hoa tươi đẹp. Tất cả mọi sự vật trên vũ trụ đều có thể thay đổi !

Dù chúng ta quán tưởng niềm an lạc dưới bất cứ hình thức nào, hình dạng nào, tâm của chúng ta cũng tự động phản ảnh nó; như thế, tất cả những năng lượng xấu, những ô nhiễm của những ý niệm sai lạc đều được thay thế bằng những năng lượng tốt; những nguồn năng lượng tươi vui này sẽ tự nhiên phát khởi lên trong tâm của chúng ta, chẳng phải vì có một cục kẹo hay một thỏi chocolate ở trong tay. Nếu chúng ta làm một thử nghiệm, chúng ta sẽ rất dễ dàng nhận ra được sự hiệu nghiệm của vấn đề tâm lý này.

Nhiều người muốn tự tử. Vấn đề của họ là do những gì họ tưởng tượng ra, nghĩ ra. Họ chỉ thấy toàn là đau khổ, trở ngại; họ không thể quên được những nỗi khắc khoải, những phiền muộn, họ không thể ngủ được hoặc chẳng bao giờ có được một giấc ngủ an lành. Tự tử không phải là lối giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Họ cắt tay, bắn vào đầu. Đây là một điều quan trọng mà chúng ta phải thấu hiểu tâm lý sâu xa của vấn đề tự tử.

Tâm lý sâu xa trong việc dâng cúng cũng vậy, phải hiểu rõ mục đích chính của cúng dường là gì, nếu không hiểu được, nếu không nhìn ra được phật tính của sự vật thì sự vật cũng chỉ là sự vật vật chất mà thôi và sự dâng cúng cũng chỉ là vật chất như vậy. Nhưng nếu chúng ta hiểu được siêu việt tính này, chúng ta có thể giao cảm sâu xa khi thực hành sự dâng cúng để công việc tu tập của chúng ta đạt được thành qủa, tâm trở nên an lạc hơn, trí tuệ phát triển hơn. Nếu chúng ta tu tập theo chiều hướng này thì chúng ta sẽ không bao giờ còn buồn phiền, uất ức và sẽ nhìn cuộc đời hoàn toàn đổi mới tươi đẹp hơn.

Đừng bao giờ bi quan trong việc thực hành phương pháp chuyển hóa. Uống một ngụm nước cam lồ sẽ tươi mát hơn một ly nước bình thường rất nhiều. Một ly trà hay một ly cà phê chỉ cho chúng ta một chút mùi vị khoan khoái ở miệng và bao tử. Sự khoan khoái này chỉ nhất thời và chẳng bao lâu chúng ta lại phải đi tiểu. Ngược lại, sự an lạc sẽ tác động sâu xa vào toàn thể hệ thần kinh, làm thanh tịnh năm giác quan và nguồn năng lượng này không có gì có thể so sánh được. Đó là sự thật! Tôi không hề nói quá đáng.

Một số người nghĩ rằng quý vị tăng ni đã không còn màng gì tới âm nhạc, đã từ bỏ tấât cả. Chúng tôi không từ bỏ gì cả!!!  Chúng tôi thưởng thức, hưởng thụ và chia sẻ tất cả mọi loại âm nhạc trong vũ trụ. Chúng tôi vẫn ca hát và nhảy múa với nhau. Chúng tôi có thể ca hát và nhảy múa khi nào chúng tôi thích, khi nào chúng tôi còn ở trong tình trạng tỉnh thức, còn trên con đường giải thoát và còn biết rằng chúng tôi không gây bực bội cho hệ thần kinh của chúng tôi. Trong những tu viện nam cũng như nữ ở Tây tạng, chúng tôi vẫn chơi những loại nhạc khí trong những dịp hội hè và ngay cả trong những lễ nghi tôn giáo nữa. Chúng tôi không thiếu sót gì trong đời sống, chúng tôi thưởng thức và an hưởng tất cả!!!

Dĩ nhiên, nếu chúng ta cứ mãi giải thích những điều này cho người đời thì họ sẽ nghĩ rằng chúng ta điên hoặc mơ mộng. Nhưng điều này chẳng điên khùng chút nào, đó là sự thật. Nếu họ không đồng ý, hãy hỏi họ, “vậy thì cái gì mới là sự thật?” Họ không trả lời được. Họ nghĩ rằng họ rất thông minh và hãnh diện vì họ cho rằng những gì họ đã làm đều là sự thật còn những gì chúng ta làm đều là những điều kỳ dị, không tưởng. Đó là một ý niệm sai lạc. Nếu chúng ta phân tích vấn đề bằng trí tuệ, chúng ta sẽ thấy rằng cả hai bên đều làm cùng một công việc: huyễn ảo, vọng tưởng; tất cả chúng ta đều làm những việc hão huyền. Vì thế, cái gì đúng cho người này thì cũng có cái đúng cho người khác.

Những phẩm vật ta dâng cúng mang lại ba đặc tính: thứ nhất là niềm an lạc, thứ hai là sự an lạc này được thể hiện qua những hiến vật và mỗi hiến vật có những đặc tính riêng vô tận của chính nó, thứ ba là nó không bao giờ chấm dứt sự phúc lạc nơi ta.

Chúng ta có thể tưởng tượng tám hiến vật được làm bởi tám vị thần. Khi chúng ta bắt đầu bắt ấn quyết để dâng cúng phẩm vật thì một vị thần tương ứng với phẩm vật đó liền xuất hiện từ trái tim của chúng ta để làm việc dâng cúng, rồi ngay sau khi chấm dứt ngài lại tan biến trở lại trái tim của chúng ta. Vị thần chính là sự thị hiện của trí siêu việt, khi các ngài tan biến trong tim của chúng ta, các ngài thanh tẩy và làm cho trái tim của chúng ta trở nên tốt đẹp, an lạc, những nguồn năng lượng này không thể bị phá hủy. Mỗi vị đều có bốn tay: hai tay trên cầm chày kim cang và chiếc linh (chuông nhỏ) còn hai tay kia dâng cúng phẩm vật.

Tám hiến vật và 8 vị thần tương ứng là:
argham Nữ thần rượu tiên  mang mầu trắng
padyam Nữ thần chân sạch  trắng
pushpe Nữ thần hoa   trắng
dhupe  Nữ thần nhang  mầu khói
aloke  Nữ thần ánh sáng  đỏ
gandhe Nữ thần hương thơm xanh lục
naivedya Nữ thần thực phẩm nhiều mầu
shabda         Nữ thần âm thanh  xanh lam

JAH HUM BAM HO. Trở nên làm một, trở thành bất nhị.

Trong lúc dâng cúng hiến vật, chúng ta tụng mật chú JAH HUM BAM HO. Với JAH, Trí Tuệ được kêu gọi; với HUM, Trí Tuệ đi vào; với BAM, nó được hòa nhập làm một; và với HO, nó trở nên phúc lạc không thể bị phá hủy.

Như vậy, nguồn lực trí tuệ từ chư Phật mà chúng ta đã kêu gọi được thu hút bởi những tia sáng từ chủng tử HUM ở trái tim của Heruka Vajrasattva. Ngay lập tức và rất dễ dàng, nó hòa tan vào trái tim của Ngài, nó liền trở nên niềm an lạc của thần trí Ngài, như giọt nước hoà tan trong đại dương, chẳng còn cách biệt và phân chia nữa.

Thực ra, Heruka Vajrasattva không cần phải hoà tan trong thần trí bởi vì Ngài đã là một với các chư phật. Thực là sai lầm nếu chúng ta nghĩ rằng Heruka Vajrasattva là một thực thể riêng biệt đối với các chư phật. Chỉ vì tâm nhị nguyên của chúng ta đã không hiểu nổi hình ảnh thần linh mà chúng ta quán tưởng trên đỉnh đầu và sự thị hiện của thần trí là một. Chính chúng ta đã phân biệt, đã chia rẽ sự kiện này. Vì thế, chúng ta cần thay đổi tâm nhị nguyên của chúng ta bằng phương cách quán tưởng này.

Nhưng nếu nói: “ Ồ, chúng là một và hoàn toàn giống như nhau,” thì cũng không được, vì sự hiểu biết này, lời nói này hoàn toàn do trí thông minh mà ra. Nó không giúp gì cho tâm của chúng ta. Nhưng, nếu chúng ta kinh nghiệm sự hợp nhất qua sự thực tập phương pháp du gìa này thì sự nhận thức của chúng ta sẽ hoàn toàn là trực giác. Heruka Vajrasattva là sự hợp nhất giữa các nguồn năng lượng đang được thị hiện của các chư Phật trong trạng thái thần thánh để nói chuyện với chúng ta. Một khi chúng ta đã hoàn toàn thanh tẩy tâm nhị nguyên thì chính chúng ta cũng sẽ trở nên làm một với sự an lạc của thần trí.

Sự quán đảnh 

Lại nữa, những tia sáng từ chủng tử HUM tại trái tim của Ngài đang kêu gọi các vị thần quán đảnh của gia đình năm vị thiền Phật.

OM PANCHA KULA SAPARIVARA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM  SVAHA

“Kính lạy Đức Như Lai, xin ban phước cho sự quán đảnh của con [Heruka Vajrasattva].” Theo lời cầu khẩn này, tất cả chư Như Lai cầm bình nước cam lồ trên tay, bình nào cũng tràn đầy tuệ lực sẵn sàng chảy ra. Mỗi khi câu mật chú OM SARVA TATHAGATA ABHISHEKATA SAMAYA SHRIYE HUM được tụng lên là sự quán đảnh được ban phát.

Thánh thể toàn tri, Heruka Vajrasattva, được tràn ngập bởi nước cam lồ, nguồn tuệ lực tiên thiên. Những giọt nào chảy tràn ra ngoài liền thấm nhập lại vào Đức Phật A Súc Bệ (Akshobhya), đang ngự trên đỉnh đầu Ngài.

Chủng tử HUM ở tại trung tâm của vầng trăng trong trái tim Ngài, vòng chung quanh là một trăm mật tự (đứng vòng chung quanh vầng trăng theo ngược chiều kim đồng hồ).

Một lần nữa, tại trái tim của Heruka Vajrasattva, chủng tử HUM lan tỏa ánh sáng chiếu rạng khắp mười phương để kêu gọi những vị thầy quán đảnh - năm vị thiền phật (xem phần phụ lục về gia đình thiền Phật)- và các chư phật trong cảnh giới bí mật riêng của các ngài chứng giám cho sự quán đảnh. Được hướng dẫn bởi ánh sáng, các ngài liền hiện diện ngay trên đỉnh đầu của Heruka Vajrasattva.

Bây giờ, trước khi cầu xin các ngài chấp nhận sự quán đảnh, chúng ta hãy dâng lên các ngài tám phẩm vật như đã trình bày ở trên. Khi chúng ta tụng PRATICCHA HUM SVAHA là chúng ta xin các ngài chấp nhận tất cả những phẩm vật này, mà bản tính tự nhiên của chúng cũng là thần trí và những cảm nghiệm tuệ lạc tiên thiên cũng hiện diện nơi thánh tâm của các ngài.

Khi dâng hiến những phẩm vật, chúng ta xin được quán đảnh. Mỗi khi tụng mật chú OM SARVA TATHAGATA...., thì những vị thần quán đảnh sẽ nhận lời cầu xin của chúng ta, các ngài nâng những chiếc bình nước cam lồ lên rót nước thanh tịnh của thần trí tiên thiên vào đường kinh mạch chính của Heruka Vajrasattva và Dorje Nyem-ma qua luân xa đỉnh đầu của hai vị này.

Thần quán đảnh nhìn xuống chúng ta như chúng ta ở dưới này đang quán tưởng Heruka Vajrasattva ở trên kia, nhận lễ quán đảnh cho chúng ta. Nhắc lại, đây chỉ là dấu ấn phân biệt nhị nguyên đã in sâu trong tâm khảm chúng ta: “Tôi là thế này, ngài là thế kia.”  Để phá tan những ý niệm thông thường này và những vọng tưởng của tâm nhị nguyên, chúng ta cần thanh tẩy sự quán tưởng như đang được dậy bảo.

Tất cả sự dạy bảo thực tập phương pháp này là để thanh tẩy tâm của chính chúng ta. Mặc dầu chúng ta quán tưởng Heruka Vajrasattva trong sáng nhưng thực ra chúng ta đang thanh tẩy chính chúng ta, ảnh hưởng tâm lý, chuyển hóa tự nhiên. Sự quán tưởng của chúng ta về Heruka Vajrasattva là cái nhìn không trong sáng của chính chúng ta. Bởi vì thanh tẩy ngài trong tầm mức sâu thẳm, nguồn năng lực trong sáng của giác ngộ, nên chúng ta sẽ tự trở nên trong sáng. Sự kiện này sẽ ghi lại một dấu ấn thật sâu đậm trong tâm thức của chúng ta và sẽ giải thoát chúng ta khỏi những nguồn năng lượng xấu một cách rất tự nhiên.     

Sau khi quán đảnh, Thánh thể Heruka Vajrasattva tràn đầy năng lượng của thần trí, được vị thần quán đảnh đổ trên luân xa đỉnh đầu đi vào kinh mạnh chính của ngài. Nếu chúng ta đạt được nguồn đại trí qua mật điển du gìa, chúng ta cũng sẽ có những kinh nghiệm giống như vậy. 

Tuy nhiên, chúng ta nên biết rằng toàn hệ thần kinh của chúng ta đã tràn ngập nguồn an lạc này, đúng như vậy. Nhưng bởi vì, chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta qúa nghèo nàn thấp kém, đời sống chúng ta luôn luôn thiếu: “Tôi không có cái này, tôi không có cái kia, tôi chẳng có gì cả.” Nên, chúng ta nghĩ: “Nếu tôi có cái đó, tôi đã vui biết chừng nào.” Tự chúng ta, chúng ta đã bất mãn, nên chúng ta luôn luôn đi kiếm tìm bất cứ cái gì chúng ta cho là chúng ta đang thiếu, đang không có.

Luân xa dưới cùng của chúng ta đang bị tắc nghẽn, đen tối, đau và không có nguồn an lạc. Luân xa rốn (luân xa số 3, hoả đại --Dg) của chúng ta đang bị đóng, đen tối và bị đè nén. Luân xa trái tim (luân xa số 4, phong đại --Dg)  đang tan vỡ vì máu bị ô nhiễm bởi những cảm xúc và tuyệt vọng. Luân xa cổ họng (luân xa số 5, không đại --Dg) thì tràn đầy ô nhiễm, không có điều gì chúng ta nói mà tốt lành. Còn luân xa đỉnh đầu (luân xa số 7 --Dg) thì bị đông đặc, cứng, lạnh ngắt, không cởi mở, không hòa tan trong nội hỏa được. Toàn thân đắm chìm trong ô trược nên nguồn đại lạc không thể đổ vào, không thể thấm vào chúng ta và cho chúng sinh khác. Hoàn toàn đen tối, hoàn toàn bị tắc nghẽn và dầy đặc nhiễm ô.

Vì thế, qua phương pháp thực tập thanh tẩy này, chúng ta mới có thể nhận được nguồn đại trí và đem nguồn đại lạc miên viễn này vào sâu thẳm trong trái tim ta. Chúng ta có thể dùng phương pháp thanh tẩy tuyệt diệu này từ bây giờ cho đến khi qua đời. Ngay cả trong lúc chết chúng ta cũng vẫn dùng được, bởi vì tự nó thường phát triển. Nếu ta không phát triển, tâm ta luôn luôn thay đổi, lúc thế này lúc thế khác, khi lên khi xuống, như thế chúng ta sẽ chẳng vui được. Hãy nhìn thẳng vào chính ta: mặc dầu đã được học Đạo pháp mà chúng ta vẫn còn chạy lòng vòng làm cái này làm cái kia. Những sinh hoạt trong cõi luân hồi không bao giờ ngừng. Ngay cả những người đang sống trong những tu viện hay trong những thiền viện, những nơi đó đáng lẽ phải là những nơi thanh tịnh, an lành mà cũng luôn luôn bận bịu, rộn ràng. Cuộc sống chắc chắn sẽ chấm dứt một ngày nào đó. Thế thôi.

Theo nghi quỹ tu tập, Tây Tạng có từ ngữ ku; kaya theo Sanskrit (Phạn ngữ). Chúng ta dịch sang Anh ngữ là “holy body”, Việt ngữ là “thánh thể”, nhưng thực ra nên dịch là “hệ thần kinh thanh khiết, hệ thần kinh trong sáng” thì đúng hơn. Tôi không biết tự điển khoa học dịch thế nào cho chính xác danh từ này của Tạng ngữ hay Phạn ngữ nhưng tôi chắc chắn rằng chúng tôi đã có những kinh nghiệm, những chứng nghiệm rõ ràng về ý nghĩa của nó. Ku ám chỉ hệ thần kinh trong sáng của Heruka Vajrasattva đã thấm nhập, thẩm thấu được đại lạc của nguồn tâm hỏa (kundalini).

Hệ thần kinh của chúng ta cũng được thấm nhuần đại lạc này, nhưng chúng ta đã không biết đến nó. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều cảm nhận được niềm hạnh phúc trong tâm và trong hệ thần kinh mỗi khi năng lượng xấu được chuyển hóa thành an lạc và mỗi khi chúng ta không còn đeo dính, bám víu vào đối tượng ở bên ngoài và mỗi khi còn tỉnh thức. Nhưng mỗi khi chúng ta trở lại với những ảnh hưởng của nghiệp lực hay của những ý niệm cũ là chúng ta lại tự hủy hoại những kinh nghiệm an lạc này. Dĩ nhiên, vì biết những ý niệm này rất mạnh, nên chúng ta phải cố gắng vượt qua chúng càng mạnh hơn nữa càng tốt, tuỳ theo sự hiểu biết thâm sâu của chúng ta về kinh nghiệm đại lạc này như thế nào. Thật đáng nghi ngờ những lợi lạc này, thật dễ thắc mắc về những cơ hội ơn ích này, phải không? Chúng ta nên học hỏi, suy gẫm từ chính những kinh nghiệm an lạc đơn giản trong chúng ta. 

Thí dụ, nếu có người hỏi ta nên chọn ăn trưa ở một nhà hàng sang trọng 5 sao trong một khách sạn hay một cửa hàng xập xệ trong khu bình dân Aán độ, chúng ta sẽ không ngần ngại gì mà không chọn cửa hàng sang trọng kia. Cũng giống như vậy, ở đây chúng ta có cơ hội để kinh nghiệm niềm an lạc vô biên 5 sao trong hệ thần kinh của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn cứ chọn cái quán tồi tàn kia. Tại sao? Lý do chính yếu là chúng ta còn bám víu vào tình cảm của chúng ta, vào những thói quen và những ý niệm sai lầm đã tích tụ trong chúng ta. Sự kiện này cho chúng ta biết chúng ta đã vô minh u tối như thế nào và hệ thần kinh của chúng ta thực sự ra sao. Hãy tìm hiểu xem sao, hãy thử suy nghĩ xem sao, quý vị sẽ nhận ra, qúy vị sẽ nhìn thấy!

Và giờ đây nước cam lồ không những chỉ tràn ngập trong hệ thần kinh của Heruka Vajrasattva mà nó còn tràn ngập trong vị Thiền Phật Akshobya (A súc bệ Phật) nữa, Ngài đang ngự trên đỉnh đầu của Vajrasattva. Có nhiều cách để diễn tả trạng thái này, nhưng ở đây chỉ nên hiểu rằng Heruka Vajrasattva đang ở trong dòng đại lạc của A súc bệ Phật. Nên biết rằng trong lễ quán đảnh sẽ có một lúc mà chúng ta sẽ khám phá ra vị thiền Phật nào mà chúng ta cảm thấy gần nhất, thích hợp nhất, có duyên nhất trong 5 vị thiền Phật, rồi sau đó, chúng ta nên gìn giữ sự liên lạc với dòng năng lượng của vị Phật này. Sự cảm nhận của chúng ta có liên hệ đến điều đó. 

Đã chấp nhận sự quán đảnh, chư Phật đã hòa nhập vào thánh tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva, niềm đại lạc tiên thiên của các ngài trở nên là một và không bao giờ xa rời Heruka Vajrasattva. Lại nữa, linh ảnh của chư vị quán đảnh Phật không bị phai nhòa đi mà sẽ hòa nhập vào trái tim của Heruka Vajrasattva, tâm đang tràn đầy tuệ lực và ơn phước, rất cần cho sự trưởng dưỡng, sự hòa nhập.

Tại trung tâm của vầng trăng nơi thánh tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva có chủng tử HUM, chung quanh là 100 mật tự của Ngài, đọc theo ngược chiều kim đồng hồ trên viền của vầng trăng.

HIẾN DÂNG VÀ CẦU NGUYỆN HERUKA VAJRASATTVA

OM VAJRASATTVA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM VAJRASATTVA OM AH HUM

Trong thần trí bất nhị, trong cảnh huy hoàng rực rỡ nơi nội tâm thanh tịnh của các bà mẹ của tất cả chúng sinh; trong niềm tuyệt diệu không thể thay đổi, trong niềm đại lạc viên mãn; cùng thần trí không thể huỷ hoại sẽ giải phóng tất cả chúng sinh khỏi mọi sự xấu của thân khẩu và ý, đặc biệt cho cả những lỗi lầm của lời nguyện ước này, thưa Thầy con xin qui y Thầy.

Đạo Tràng Bí Mật

Quan điểm chính xác của tánh không là sự hợp nhất trong tuệ lạc. Trí tuệ này chuyển biến vào núi Tu Di, mặt trời, mặt trăng và vào tất cả những hiện tượng trong vũ trụ. Con xin dâng tất cả những gì tốt đẹp nhất lên cho Thầy, đấng tràn đầy lòng từ ái, đấng đã tự giải thoát và đang cứu giải muôn loài.

Nội Đạo tràng

Xin Ngài hãy giải thoát con và muôn loài chúng sinh ra khỏi biển trầm luân của tam độc ngay bây giờ, con xin dâng lên Ngài không một chút sợ hãi và không một chút gì bám víu vào tham lam, ganh ghét và vô minh; con xin dâng lên Ngài tất cả bạn con, kẻ thù của con và những người xa lạ với con; thân xác con đây cùng tất cả những gì con có. Kính xin Thầy chấp nhận.

Hãy hiến dâng tám phẩm vật như chúng ta đã làm ở trên. Tiếp theo là sự hiến dâng trong nội tâm. 

Tâm trần tục, vọng tâm của chúng ta quan niệm tất cả các hiện tượng có thanh tịnh hoặc không thanh tịnh, có tốt và xấu, rồi chúng ta bám víu vào đó hoặc đeo đuổi chạy theo sự nhị nguyên của đối tượng mà cấu tạo nên tính cách vô thường của ngũ uẩn. Qua sự thực hành phương pháp du già chúng ta chuyển hóa ngũ uẩn của chúng ta vào đại lạc của trí siêu việt, trí này vượt ra ngoài nhị nguyên tính và đây chính là bản tính uyên nguyên của năm vị thiền phật, chúng ta hãy hiến dâng cho tuệ lạc này. Đó là lý do tại sao gọi là sự hiến dâng trong nội tâm.

Tiếp theo, chúng ta cầu nguyện trí siêu việt bất nhị, những bảo châu tráng lệ nội tại của tất cả các bà mẹ của tất cả chúng sinh, bản tính không thể thay đổi, đại lạc thường hằng. Đây chính là Heruka Vajrasattva, Ngài với quyền năng của tuệ lạc sẽ giải thoát tất cả các bà mẹ của tất cả chúng sinh thoát khỏi những nguồn năng lượng xấu của những hành động xấu của thân khẩu ý và ngay cả sự bất toàn của lời nguyện hứa này. Chúng ta qui y và khấn lạy trí thường hằng siêu việt .

Rồi chúng ta dâng mạn đà la. Trong lễ hiến dâng mạn đà la bí mật, chúng ta khấn nguyện rằng trí siêu việt, tánh không là sự hợp nhất của tuệ lạc, trí tuệ tự hữu. Tuệ này cũng chuyển hóa vào núi Tu Di, vào mặt trăng vào mặt trời và vào tất cả những hiện tượng trong vũ trụ. Chúng ta hiến dâng tất cả lên Heruka Vajrasattva, Ngài là biển nhân ái, Ngài đã tự giải thoát, Ngài sẽ cứu độ và giải thoát tất cả muôn loài chúng sinh.  

Phần 5

SỰ THANH TẨY

“Bhagawan Vajrasattva, kính xin Ngài hãy thanh tẩy tất cả những ô nhiễm, thói hư tật xấu và ngay cả sự bất toàn trong lời nguyện hứa này của con và của muôn loài chúng sinh.”

Vì lời cầu khẩn thành thật thiết tha này, ánh sáng rọi chiếu rực lên từ chuỗi mật tự và từ chủng tử HUM trong thánh tâm Ngài. Nó tẩy sạch tất cả ô nhiễm xấu xa của muôn loài chúng sinh rồi trở nên phẩm vật cúng dường chư Phật và Bồ tát. Bản tính thanh khiết của thân khẩu và ý thánh thiện biến thành ánh sáng thâm nhập lại vào chủng tử HUM và chuỗi mật tự.

[Rồi từ chủng tử HUM và từ chuỗi mật tự] một dòng năng lượng an lạc trắng (white kundalini) bắt đầu tuôn tràn xuống các luân xa của hai Ngài. Nó tuôn chảy xuống các luân xa của sự hợp nhất (biểu tượng bất nhị ôm choàng của Vajrasattava và Dorje Nyem-ma) rồi tràn xuống luân xa đỉnh đầu con. Suối nguồn đại lạc siêu tuyệt này tràn ngập toàn thân con, thanh tẩy toàn diện ô nhiễm xấu xa của thân khẩu và ý của con. Thanh tẩy toàn diện. 

Trước tiên chúng ta cầu xin Heruka Vajrasattava - thần hủy diệt ô nhiễm, đấng cai quản tất cả tri thức và thánh hóa thế giới này – thanh tẩy chúng ta và muôn loài chúng sinh sạch hết mọi ô nhiễm của thân khẩu và ý cùng những sai trái và suy đồi trong lời nguyện hứa cam kết này.

Rất nhiều tia sáng từ chủng tử HUM và từ chuỗi mật tự ở thánh tâm Heruka Vajrasattva và Phật mẫu tỏa chiếu mười phương, thanh tẩy hết ô nhiễm của tất cả chúng sinh rồi làm cho phẩm vật cúng dường thành tuyệt hảo dâng lên chư Phật cùng chư Bồ tát. Bản chất thanh khiết của trí tuệ siêu việt của thân khẩu và ý thánh thiện biến thành ánh sáng rồi thẩm thấu vào chủng tử HUM và vào chuỗi mật tự tại thánh tâm Vajrasattava và Phật mẫu. Rồi từ đây, muôn vàn dòng năng lượng an lạc trắng tuôn chảy vào kênh thần lực trung tâm của Ngài. Bản chất nguồn lực đại lạc này chính là tuệ lạc siêu việt của Ngài. Đây chính là nguồn lực vô tận, không bao giờ cạn – ngược lại với năng lực giới hạn của chúng ta, luôn luôn tiêu hao nên cần phải ăn để bù đắp lại.- Khi quán tưởng sự việc này, chúng ta cũng nên quán tưởng dòng năng lượng an lạc trắng đang chảy tràn vào kinh mạch trung tâm của Phật mẫu, Dorje Nyem-ma.

Nguồn lực đại lạc trắng rót vào kinh mạch trung tâm của hai Ngài rồi đi xuống các luân xa phía dưới và rời khỏi thân xác thanh khiết của hai Ngài tại điểm hợp nhất. Nó tiếp tục chảy xuống vầng trăng và tòa sen, đây là sự tuôn chảy tự nhiên của nguồn tuệ lạc, không có gì ngăn cản được. Nó chảy vào ta qua luân xa đỉnh đầu rồi đi xuống những luân xa phía dưới theo kinh mạch trung tâm như thác nước chảy. Điều quan trọng là ta nên quán tưởng dòng đại lạc trắng tuôn chảy rất mạnh, như thác lũ, nó tràn vào cơ thể ta và toàn hệ thần kinh ta. Nguồn đại lạc trắng này không thấy như vật chất nhưng cảm nhận rất thực. Ta cảm thấy tràn ngập ánh sáng và hỉ lạc. Tất cả ô nhiễm, xấu xa của thân khẩu và ý hoàn toàn tan biến hết.

Tụng niệm mật chú

OM VAJRA HERUKA SAMAYAM ANUPALAYA. HERUKA TENOPATISHTHA. DRIDHO ME BHAVA, SUTOSHYO ME BHAVA, SUPOSHYO ME BHAVA, ANURAKTO ME BHAVA. SARVA SIDDHIM ME PRAYACCHA. SARVA KARMA SUCHA ME CHITTAM SHREYAH KURU, HUM ! HA HA HA HA HOH ! BHAGAVAN VAJRA HERUKA MA ME MUNCHA. HERUKA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM PHAT !

Bây giờ chúng ta tụng bách tự mật chú của Heruka Vajrasattva. Có ba phương pháp quán tưởng khi tụng niệm mật chú này.

Phương pháp thứ nhất gọi là yan-de. Nguồn đại lạc trắng đi vào kinh mạch chính. Nó tràn ngập toàn thân và hệ thần kinh, tẩy rửa và tống ra ngoài tất cả ô nhiễm qua các lỗ chân lông và những chỗ hở trên cơ thể. Có nhiều cách quán tưởng ô nhiễm khi nó thoát ra khỏi thân xác, ta có thể chọn cách nào thích hợp nhất với tâm ta. Chúng ta cũng có thể quán tưởng tam độc tham sân si đi ra khỏi thân xác dưới dạng ba con vật tương ứng là con heo, con gà và con rắn. Hoặc chúng ta quán tưởng một cách đơn giản dưới bất cứ hình dạng nào xấu xa nhất mà chúng ta có thể nghĩ ra, như bọ cạp, cua, giun, hắc ín, bùn…..

Có người hỏi rằng làm sao tống con này con khác, những con vật có lớp da dầy cứng ra khỏi thân xác của chúng được, thực tế cho biết có rất nhiều sinh vật đang sống trong cơ thể chúng ta. Chúng ta có liên hệ mật thiết với những sinh vật này, chúng ta không thể sống nếu không có chúng. 

Thân xác của chúng ta là nơi trú ẩn, nương náu của những côn trùng như giun sán, con dài, con ngắn cùng rất nhiều loài khác nữa. Chúng ta đang trả nợ chúng vì nghiệp quả. Trong quá khứ chúng ta đã lấy của chúng, bây giờ chúng lấy lại. Chúng ta đã lấy thức ăn của chúng, vì thế bây giờ chúng vào trong cơ thể của ta chúng ăn lại. Ngay cả những người tham lam nhất thế giới, họ nghĩ rằng cứ nắm thật chặt, cứ bám thật chặt  thì chẳng ai lấy được cái gì của họ, họ có ngờ đâu giun sán đang ăn thức ăn trong bao tử ruột gan của họ. Nghiệp lực rất mạnh, không ai cưỡng được. Nếu ta lấy chúng ra khỏi cơ thể, chúng cũng vào lại. Chúng lấy sức khỏe của ta, đôi khi còn lấy cả mạng sống của ta. Chúng ta chết bằng rất nhiều cách, đừng nghĩ rằng có ai giết ta bằng dao, bằng súng đạn chúng ta mới chết.

Nghĩ như vậy chúng ta mới hoàn toàn thanh tẩy được, đặc biệt là tẩy rửa những ô trược ám chướng, những ô nhiễm xấu xa trong tâm. Chúng ta thường nói rất khó mà thanh tẩy những thói hư tật xấu đã thâm căn cú đế trong ta, nhưng không đúng như vậy, không thực chút nào, tất cả những khó khăn trong đời đều do tâm ta tạo ra. Chúng ta tự nhiên cảm thấy an lạc, chúng ta luôn luôn thích ứng với những cảm giác. Chúng ta cho rằng rất khó mà thích ứng với những sự kiện ở bên ngoài. Khi sự kiện xẩy ra không tốt, chúng ta đổ lỗi cho cha mẹ: “Mẹ tôi đã làm thế này, bố tôi đã làm thế kia. Mẹ tôi như thế này, bố tôi như thế kia…” Đây không phải tại thân xác chúng ta mà tất cả đều do tâm ta đã tạo ra những khó khăn cho đời. 

Nếu thực sự chỉ tại thân ta tạo ra vấn đề thì tại sao chúng ta không ngồi xếp chân lâu được? Tại sao chúng ta lại thắc mắc về cách ngồi này? Tâm ta đã nêu ra vấn đề. Khi ngồi thiền, nếu cảm thấy thoải mái, tâm ta sẽ được kiểm soát dễ hơn và sẽ có hứng thú tiếp tục ngồi hơn. Rồi cảm giác thoải mái lại tăng lên. Không phải tại cái xác này mà tại chính tâm ta. Vì thế, phương pháp tu tập này là để cho năng lực an lạc siêu việt tẩy rửa đi những chấp ngã và những hấp lực, trọng lực đang có trong ta, để ta cảm thấy dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh tẩy toàn diện.  

Phương pháp kế tiếp là man-de. Theo phương pháp này nguồn đại lạc tràn ngập toàn thân và hệ thần kinh, phát xuất từ dưới đi lên đỉnh đầu. Khi nó dâng lên, tất cả ô nhiễm xấu xa nổi trên mặt của năng lượng đại lạc này – như rác nổi trên mặt nước khi nước dâng lên – rồi thoát ra ngoài cũng qua lỗ chân lông và những chỗ hở ở phân trên của cơ thể. Khi nước cam lồ chảy tràn cơ thể, ta cảm thấy an lạc, hạnh phúc. Hãy cảm nhận sự thanh tẩy toàn khắp con người của ta, đặc biệt là những nhiễm ô siêu vi tế.   

Phương pháp quán tưởng thứ ba là phung-de. Quán tưởng đến ánh sáng thay vì nguồn năng lượng trắng. Vô lượng tia sáng an lạc phát ra từ thánh tâm của Heruka Vajrasattva, bùng cháy đến luân xa cuối cùng của Ngài, đi vào luân xa đỉnh đầu rồi vào kinh mạch trung tâm trong xương sống của ta. Nó mầu trắng điểm mầu sắc cầu vồng đỏ vàng xanh lá cây và xanh dương. Những tia sáng rực rỡ này chan hòa khắp thân thể ta, xóa tan hết tất cả những nghi ngờ, lưỡng lự trong tâm ta cùng với tam độc tham sân si; chúng sẽ biến mất mãi mãi không bao giờ trở lại. Sự kiện này giống như ta bật đèn ở một căn phòng tối tăm, bóng tối tan ngay lập tức. Bóng tối không thoát ra ngoài cửa sổ, phải không? Nó tự tan mất. Do đó, không còn một chỗ nào trong thân thể ta từ óc não, cổ, ngực ... còn tối tăm, còn ô nhiễm, ngay cả hệ thần kinh. Thanh tẩy hoàn toàn, trong sáng như pha lê. Hãy cảm nhận ta đã hoàn toàn được thanh tẩy, không còn một chút tì vết, nhất là những tì vết siêu vi tế trong tâm ta.

Trong những buổi tĩnh tâm, những ngày nhập thất, chúng ta có thể thực hành từng phương pháp cho mỗi lần tụng niệm mật chú hay dùng một phương pháp cho suốt thời tĩnh tâm, nhập thất, rồi thực hành phương pháp khác cho kỳ khác.

Ngoài thời kỳ tĩnh tâm, chúng ta có thể áp dụng những phương pháp này khi ngồi thiền hàng ngày, thật là ơn phước, hãy tụng niệm mật chú Heruka Vajrasattva 21 lần cho mỗi phương pháp. Thời gian tốt nhất là vào buổi tối, trước khi đi ngủ. Ngồi thiền ban ngày thường hay bị lãng trí. Vì thế, như là một công việc cuối cùng của một ngày, chúng ta hãy thanh tẩy tất cả những hành vi xấu, những sinh hoạt không đạo đức mà chúng ta đã tạo ra trong ngày; hãy đi ngủ trong một tâm thái an lành, thoải mái thay vì buồn phiền, chán chường đã xẩy ra trong ngày. Bởi vì thường ngày chúng ta đã luôn luôn va chạm với những hoạt động không thanh khiết nên chúng ta cần những phương pháp tẩy rửa như thế này. Chúng ta đã dành quá ít thời giờ cho công việc này.

Nghiệp chướng in sâu vào tâm ta tăng theo lũy tiến nhưng nếu ta tụng niệm mật chú Vajrasattva 21 lần một ngày, thì chúng sẽ bị tẩy rửa và không thể tăng được, kể cả những lời nguyện hứa bất toàn trong ngày. Nếu phương pháp này có sức mạnh ngăn cản sự tăng tiến của nghiệp lực tạo ra trong lúc nguyện hứa, qui y – đại nguyện hoặc những trọng tội – thì dĩ nhiên nó cũng có thể chấm dứt sự tăng trưởng của những hành động ô nhiễm tự nhiên, như vô tình sát sinh hay những lời nguyện hứa cho qua. Hơn nữa, nếu chúng ta tụng niệm mật chú này đầy đủ một trăm ngàn lần –vô lượng lần - thì chắc chắn sẽ thanh tẩy trọn vẹn ô trược ám chướng của nghiêïp quả.  

Khi tụng niệm mật chú, điều quan trọng là chú tâm, đừng để ý đến chuyện gì khác ngoài việc thiền định. Nếu ta thực hành trong trạng thái an định nhất tâm như vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ thanh tẩy được những dấu ấn bất tịnh thâm căn cú đế trong tâm ta cùng những chướng ngại trên con đường tu tập. Kết quả thanh tẩy này đến từ sức mạnh thiền định và từ sức mạnh của mật chú. Đôi khi nó cho ta những linh ảnh xẩy ra bên ngoài trái đất này. Khi tâm đã thanh tịnh, khi những chướng ngại ngăn che không còn, ta có thể nhìn được những phương trời mới lạ.

Mật chú còn cho ta khả năng đọc được tâm người khác. Hạnh phúc hay đau khổ tùy theo sự cảm nghĩ của họ. Rất nhiều hiện tượng khác cũng có thể xẩy ra – tùy theo từng cá nhân, từng trường hợp. Trong khi nhập thất, mỗi người có được kinh nghiệm khác nhau, mỗi người có được nhận thức khác nhau. Rất khó mà biết được ai sẽ kinh qua nhận thức gì. Có người sẽ là Vajrasattvas Mỹ, có người sẽ là Kim Cang Tát Đỏa Á Đông, có người sẽ là Vajrasattvas Tây phương, hoặc Úc châu.... ai mà biết được!!!   

Phần 6

KẾT THÚC SỰ THỰC TẬP


OM VAJRASATTVA  ARGHAM...SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM VAJRASATTVA OM AH HUM

Từ Trí Bất Nhị... con kính lạy Thầy.

Vì vô minh và vọng tưởng con đã hủy hoại lời nguyện hứa của con. Hỡi Thầy, Ngài có sức mạnh giải thoát con, Ngài nắm giữ sự bất hoại, bản tính của lòng đại bi, Ngài là Chúa Tể của muôn loài chúng sinh, con xin qui y Thầy.

Vajrasattva nói, “ Ôi con yêu quý, tất cả ô trược ám chướng, tất cả tính tiêu cực và sự thất hứa của con đã được thanh tẩy hoàn toàn.” Rồi Ngài hòa nhập vào tôi. Ba cửa thân, khẩu và ý của tôi trở thành một với thân, khẩu và ý của Vajrasattva.

Tiếp theo sau sự tụng niệm chúng ta lại dâng lên Vajrasattva những phẩm vật bên ngoài và bên trong cùng những lời cầu khẩn của chúng ta như lúc đầu.

Ta đã thưa với Heruka Vajrasattva rằng vì vô minh nên ta không tỉnh thức, ta không biết những gì ta đã làm nên đã hành động ngược lại những gì ta đã nguyện hứa. Đúng vậy, khi chúng ta vào sống trong một tu viện hay một thiền viện, chúng ta không thể xác định chúng ta đã tinh tấn như thế nào. Nhưng khi về nhà hay về thành phố chúng ta sẽ nhận ra ngay. Khi đang thực tập với một nhóm người, chúng ta cảm thấy chúng ta mạnh, đầy năng lực nên chúng ta cho rằng ta có thể thực hành mỗi ngày một cách dễ dàng, sẽ thiền mỗi buổi sáng sớm, sẽ tụng niệm đầy đủ...vân vân....

Nhưng khi về nhà, chúng ta đi ngủ trễ, thức dậy trễ, uể oải, nói chuyện, tính chuyện đi chơi với bạn, ăn sáng... ôi, 9 giờ rồi! không còn giờ để thiền, vội vàng đi làm. Rồi, đến giờ ăn trưa, đi uống trà, ăn tối và cuối cùng tới giờ đi ngủ – trễ rồi, không thiền nữa. Cuộc đời cứ kéo dài như vậy. Thực sự chúng ta muốn thiền nhưng chẳng bao giờ chúng ta sửa soạn, xếp đặt thì giờ cho thiền. Chúng ta dành hết thì giờ để kiếm tiền. Chúng ta không cho đời sống tâm linh một cơ hội. Hãy phân tích đời sống hàng ngày, hãy nhìn thẳng vào những sinh hoạt thường ngày, chúng ta sẽ thấy ngay, sẽ hiểu đời sống trần tục của chúng ta như thế nào.

Thực ra chúng ta không muốn phá hủy đời sống của chúng ta, chúng ta cũng không vô minh tới độ từ chối đời sống tâm linh, tìm kiếm an lạc. Nhưng chúng ta đã tạo ra một đời sống bên ngoài quá hấp dẫn đến nỗi phải dành cả đời đễ chăm sóc nó. Vì thế, chúng ta không bao giờ cho đời sống tâm linh một cơ hội, ngồi xuống, thiền định với thế giới nội tâm. Thế giới bên ngoài chạy tới chạy lui, hết ngày đến đêm không bao giờ ngừng. Mặc dầu chúng ta không muốn như vậy nhưng trí tuệ của chúng ta đang suy tàn, Đạo pháp đang sa sút.

Giống như những gì đã xẩy ra tại tu viện Kopan của chúng tôi ở Nepal. Khi mùa mưa đến, vì mưa nhiều nên nước cũng quá nhiều, rồi khi nắng lên, nước dần dần hết, đất khô, gió thổi bụi mù. Đời sống Đạo của chúng ta cũng như nước: nó bốc hơi tới lúc để lại trong tâm ta đầy bụi bặm, ô nhiễm. Lúc đó chúng ta mới ngạc nhiên, “Tôi nghĩ tôi có, nhưng tôi chẳng thấy gì, tại sao lại như vậy?” Chúng ta cảm thấy trống rỗng ở nội tâm. Trí tuệ ở đó nhưng chúng ta đã không cho nó một cơ hội nào để hé mở, phát triển. Trí tuệ không thể đến trong một ngày. Trước tiên chúng ta phải cởi bỏ, phải tẩy rửa những ý niệm cũ đi rồi từ từ, từ từ những làn sóng, những tác động trí tuệ mới lớn dần để hướng dẫn chúng ta.

Chuyện này đã xẩy ra khi những người Tây phương qua Đông phương sống một thời gian để học Đạo. Họ tiếp nhận được Đạo pháp nhưng rồi từ từ mất mà chẳng một chút quan tâm. Họ cũng chẳng hiểu hoặc khó hiểu tại sao nó lại xẩy ra như vậy. Rồi họ biện minh, “ Ồ những gì tôi học được từ những Lạt ma là những đặc sản của Đông phương, nó không áp dụng được ở Tây phương.”  Cái gì không áp dụng được? Nếu chúng ta không dùng nó thì làm sao áp dụng được nó? Thực sự áp dụng được, nếu chúng ta dùng trí tuệ của Phật; nếu chúng ta không dùng nó thì làm sao mà áp dụng được nó; nó sẽ thành lạc hậu! Lại nữa, rất khó mà nhận ra từng thay đổi nhỏ trong trí tuệ. Chúng ta cần nhạy cảm và quan sát tinh tế. Lúc đó chúng ta mới nhận ra được tâm ta lên xuống như thế nào.

Nếu không bén nhậy hoặc không quan sát tâm, chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhận ra được sự làm việc của tâm. Giống như con chó, tâm của nó thay đổi cả ngàn lần trong một ngày, nhưng đến buổi chiều nó không biết nó đã trải qua những gì trong ngày. Nó không nhớ được. Nó không thể biết được tâm của nó hoạt động như thế nào, ngay cả chúng ta. Chúng ta không nên như vậy. Một khi tâm đã bị ám ảnh, đã bị tràn ngập bởi những vọng tưởng của cái tôi thì đời ta tan mất. 

Trong phần thứ hai của sự cầu nguyện, chúng ta qui y với vị thầy (lạt ma) của chúng ta, người có năng lực hướng dẫn chúng sinh trên con đường giải thoát. Người Ấn độ hay người Nepal thường dùng danh từ lạt ma cho những vị sư Tây tạng. Ở đây ý nghĩa thực sự của danh từ này là vị thầy tâm linh, guru. Ngài nắm giữ nguồn đại lạc siêu việt không thể hủy hoại trong tâm ngài, chính là lòng bi mẫn và đại nguyện từ bi bao la, ngài cũng là vị lãnh đạo chúng sinh.

Heruka Vajrasattva trả lời chúng ta, “Hỡi con yêu dấu, tất cả ô trược ám chướng, ô nhiễm xấu xa và sự thất hứa của con đã được thanh tẩy hết.” Sau đó, Phật mẫu  tan thành ánh sáng rồi hòa nhập vào thánh tâm Ngài. Heruka Vajrasattva cũng tan thành ánh sáng rồi tuôn vào kinh mạch chính của ta và tràn ngập trái tim ta. Ba cửa (tam mật) thân khẩu và ý của ta và của Heruka Vajrasatta trở thành một. Hãy ở yên trong tâm thái bất nhị, hợp nhất, hưởng hỉ lạc của kinh nghiệm tính không, hoàn toàn khác tâm thái nhị nguyên tôi và người khác, chủ thể và đối tượng. Đây chính là trạng thái an lạc cao nhất, tuyệt đỉnh.

Chúng ta nên thiền trong khi cầu nguyện, niệm chú. Sau khi cầu nguyện, vẫn tiếp tục thiền, chú tâm vào cảm giác hợp nhất, bất nhị, tránh có những tư tưởng nhị nguyên như cái này cái kia và “ tôi là.....” Chúng ta hay có những ý nghĩ đó trong lúc cúng dường, sư Tây tạng tụng kinh rồi ngừng, sư Tây tạng tụng kinh rồi ngừng... Có người cho rằng kỳ cục, nhưng các ngài đang thiền trong trạng thái hợp nhất tối cao, họ không vội vã tụng cho hết rồi ngừng để nghĩ. Khi thực tập nghi quỹ Heruka Vajrasattva, ta cũng nên làm như vậy. Rồi sau khi hồi hướng, chúng ta không nên vội vã chạy ra khỏi phòng, nên đi ra một cách từ từ và giữ tâm trạng vẫn đang hợp nhất với Heruka Vajrasattva, Ngài cũng đang hợp nhất với thầy của ta.

Chúng ta hãy hiểu một cách vững chắc đây chính là trí tuệ siêu việt thân khẩu và ý của Heruka Vajrasatta, chứ không phải phóng chiếu “tôi là.” Còn nữa, như tôi đã nhấn mạnh trước đây, đừng vọng tưởng, đừng tin tưởng, như “ Ồ, hôm nay tôi sẽ gặp Heruka Vajrasattva.”  Điều này không cần thiết, chỉ tạo thêm mê tín dị đoan mà thôi. Vì thế hãy bỏ đi những ý nghĩ như vậy. Thêm nữa, trong lúc nhập thất hay trong thời tĩnh tâm, đừng lo sẽ bị bệnh, chính sự lo sợ làm chúng ta bị bệnh. Hãy thoải mái, an nhiên, hãy tin tưởng mãnh liệt vào Heruka Vajrasattva và nghiệp lực.

Hồi hướng

Vì ơn phước này, xin cho con mau chóng trở thành Heruka Vajrasattva để hướng dẫn mỗi một và muôn loài chúng sinh vào con đường giác ngộ.

LAMA YESHE

___________________________________________________________________

Người dịch xin chấm dứt sự trích dịch ở đây. Cuốn sách này còn ba phần nữa: 
Thời tĩnh tâm 
Thuyết giảng  
Giải thích mật chú.  

Con Đường Thanh Tẩy theo Mật Tông
Nguyên tác The Tantric Path of Purification
của Lama Yeshe
Do Wisdom Publications xuất bản
Vô Huệ Nguyên trích dịch
Email: vohuenguyen@yahoo.com

   
“ CON XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC NÀY ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON. ”