CON ĐƯỜNG KIM CƯƠNG THỪA VỀ SỰ TỊNH HÓA

LAMA THUBTEN YESHE.
Bản dịch Việt : Kiến Không
Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức, 1999

 

 

MỤC LỤC

Lời nói đầu của nhà xuất bản Việt ngữ
Lời nói đầu
Lời tựa
Lời cảm tạ
Lời giới thiệu của người Biên Tập
Dẫn nhập

PHẦN 1: BÌNH GIẢNG CHÍNH

1 Tại sao và như thế nào chúng ta phải tịnh hóa
- Bốn sức mạnh đối trị 
- Nghiệp 
2 Quy y
- Quy y và phát Bồ đề tâm 
- Quán tưởng đối tượng quy y 
- Ba phương pháp quy y 
3 Quy y bên trong và thiền định về tánh Không
- Sự thấu hiểu về tánh Không 
- Phát Bồ đề tâm 
- Thiền định “cái bình” : Bài tập thở chín vòng 
4 Phương pháp Yoga thực sự
- Quán tưởng ban đầu 
- Cúng dường Heruka Vajrasattva 
- Quán đảnh nhập môn 
- Cúng dường và ca tụng Heruka Vajrasattva 
5 Sự tịnh hóa
- Trì chú 
6 Những thực hành kết thúc
- Hồi hướng 

PHẦN 2: NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ ẨN TU

7 Chuẩn bị sẵn sàng cho việc ẩn tu
Các tiêu chuẩn đáp ứng với việc ẩn tu 
Ẩn tu ở đâu ? 
Khi nào bắt đầu ẩn tu 
Một số chuẩn bị chung 
Bạn ăn gì 
Dọn dẹp sạch sẽ nơi ẩn tu 
Chỗ ngồi thiền định
Xâu chuỗi 
Xếp đặt bàn thờ 
8 Các thời thiền định
Lịch trình hàng ngày 
Ngay trước khi thiền 
Bắt đầu thời thiền 
Nói chung về các thời thiền 
Sadhana 
Trì chú 
Hoàn tất thời thiền 
9 Thêm một số khuyến cáo về sự ẩn tu
Giữa các thời thiền 
Sự ẩn tu nói chung 
Ẩn tu theo nhóm 
Kết luận 

PHẦN 3: NHỮNG BÀI THUYẾT PHÁP

10 Không có điều bất thiện nào không thể tịnh hóa hoàn toàn 
11 Một quán đảnh nhập môn Heruka Vajrasattva 
12 Bài giảng tóm lược về sadhana Vajrasattva 
Sadhana 
Câu hỏi và trả lời 
Việc ẩn tu 
Lễ Puja bằng lửa 
13 Sự thực hành Vajrasattva và Tantra Yoga Tối Thượng
14 Những phẩm tính của Vajrasattva vốn có sẵn ở trong chúng ta
15 Hành động là tất cả

PHẦN 4: HERUKA VAJRASATTVA TSOK

16 Tsok là gì ?
17 Heruka Vajrasattva Tsok : Bài giảng thứ nhất
18 Heruka Vajrasattva Tsok : Bài giảng thứ hai

PHỤ LỤC

1 Phương pháp Yoga về Heruka Vajrasattva vinh quang tối thượng
2 Dịch và giải thích Thần Chú Một Trăm Âm
3 Thần Chú Một Trăm Âm (âm Tây Tạng)
CHÚ THÍCH
THUẬT NGỮ

Lời nói đầu của 
nhà xuất bản Việt ngữ

Sự tịnh hóa của Kim Cương thừa nói riêng và con đường Kim Cương thừa nói chung căn cứ vào trí huệ đại lạc và trí huệ tánh Không. Nhờ và bằng trí huệ đại lạc và trí huệ tánh Không mà tất cả nghiệp lực được tịnh hóa. Nhờ và bằng trí huệ đại lạc và trí huệ tánh Không mà con người đạt đến Phật tánh. Một vị Phật là người đã đạt đến Phật tánh trọn vẹn, đầy đủ cả hai phương diện trí huệ và phương tiện, tức là đầy đủ Không và Lạc.

Sự phân biệt giữa hai thừa của Đại thừa, Đại thừa tổng quát hay còn gọi là Kinh thừa (Sutrayana) và Mật thừa hay Kim Cương thừa (Mantrayana hay Tantrayana) là : cả hai thừa đều nhắm đến trí huệ tánh Không (Trí huệ), nhưng với Kim Cương thừa còn nhấn mạnh đến trí huệ đại lạc (Phương tiện). Với đôi cánh Trí huệ và Phương tiện, Kim Cương thừa bay thẳng vào không gian giải thoát một cách mạnh mẽ và nhanh chóng nhất.

Vậy phương tiện trong Kim Cương thừa là gì ? Nơi con người, Lạc nằm trong hệ thống kinh mạch (nadi và chakra), khí (prana) và hạt (bindu) trong thân thể mỗi người (mà những cái này khi được chuyển hóa sẽ thành thân Kim Cương) và được kích phát bằng những phương pháp như “hơi thở cái bình” chẳng hạn. Chính cái Lạc này khi được đưa vào hoạt động trọn vẹn cùng với tánh Không sẽ tiêu hủy tất cả những chủng tử nghiệp nằm trong phần khí tức là thân thể vi tế của mỗi người. Sự tịnh hóa như thế là chắc chắn và hẳn nhiên là khoa học.

Lạc và Không vốn có sẵn đầy đủ nơi Phật tánh của mỗi người, vấn đề là làm sao kích phát chúng, đưa chúng vào hoạt động. Bởi thế trong những hình tượng của Kim Cương thừa, chúng ta thường thấy hai vị Hóa thần trong tư thế ôm ấp nhau, tượng trưng cho Lạc và Không vốn nhất như ở trong Phật tánh. Sự ôm ấp đó chẳng có chút gì là dục lạc, vì những dục, tham, sân, si, mạn, đố kỵ, nghi…, là những xác chết đã bị hai vị hóa thần giẵm đạp dưới chân. Trong đời sống bình thường, sau thời thiền định, một hành giả Kim Cương thừa phải thấy tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức là sự kết hợp của Lạc và Không, và do đó, hình tướng của sanh tử bị thiêu rụi, chỉ còn lại một vị giải thoát của Lạc và Không, tức Phật tánh.

Trong phần kết thúc của Lễ Cúng Tsok Heruka Vajrasattva, ngài Lama Yeshe viết :

Con trình cúng tất cả mọi đồ cúng thanh tịnh còn lại –
Cam lồ của năm trí chứa trong chén sọ người này – 
Một hình tướng như huyễn của Lạc và Không không thể tách rời.

Nguyện tất cả tốt lành cho tôi thấy được tâm tôi là vị Thầy :
Ngài hiểu trọn vẹn tư tưởng của tất cả chúng sanh,
Ngữ của ngài thỏa mãn cho mong muốn của vô số chúng sanh
Và thân thanh tịnh của ngài khởi từ vô vàn tích tập công đức.
Nguyện tất cả tốt lành để chứng ngộ tánh nhất thể của Pháp thân và Sắc thân
Do khám phá ra tâm thức vi tế thường trụ của chính mình
Nhờ năng lực của việc dùng ba thân như con đường :
Cái đối trị giải độc cho sự chết, trung ấm và tái sanh.
Nguyện tất cả tốt lành để cho mọi sự trong sanh tử và niết bàn
Được tổng hợp bằng đại Không và đại Lạc
Qua sự ôm ấp siêu việt của mẹ : cõi giới hư không vượt khỏi mọi phân biệt mờ rối,
Và cha : trí huệ đại Lạc, hình tướng xuất hiện của mọi hiện tượng hiện hữu.

Đó là mục đích của Kim Cương thừa.

Cuốn sách này giúp người đọc tìm hiểu phần nào về Kim Cương thừa, và nhất là để tự hiểu chính mình : sự hợp nhất của đại Không và đại Lạc.

Nhà Xuất Bản
Thiện Tri Thức.

 

Lời Nói Đầu

MỘT GIẢI PHÁP CHO MỌI VẤN ĐỀ CỦA ĐỜI SỐNG: 
THIỀN ĐỊNH TỊNH HÓA KIM CƯƠNG TÁT ĐỎA (VAJRASATTVA)

Tôi muốn giải thích sự quan trọng lớn lao của việc thiền định Vajrasattva và thực hành trì tụng. Tại sao, vì nó quan trọng ngay cả cho những người tin tưởng vào chính cuộc đời này là thực !

Mọi thành công trong cuộc đời, gồm những thứ bình thường như gia đình, bạn bè, công việc, sức khỏe, tài sản và quyền lực đều tùy thuộc vào việc tịnh hóa những chướng ngại của nghiệp bất thiện và không tạo nghiệp bất thiện nữa. Chúng ta tạo nghiệp bất thiện như thế nào ? Chẳng hạn khi chúng ta dấn thân vào muời việc bất thiện do tính ích kỷ và mê lầm. Tâm thức mê lầm là si mê, tham luyến và sân hận ; mười việc bất thiện là : Thân có ba : sát, đạo, dâm – Ngữ có bốn : nói dối, nói xấu, nói tổn thương người khác, nói tầm phào – Ý có ba : thèm khát, ý xấu và tà kiến. Theo luật tự nhiên của nghiệp, nếu bạn làm tổn thương người khác tức là bạn tự làm tổn thương mình.

Và nó cũng vận hành như vậy trên con đường ngược lại. Nếu bạn muốn người khác thương yêu mình, trước tiên bạn phải thương yêu người khác. Nếu giúp đỡ và làm lợi ích cho người khác, tự nhiên họ sẽ giúp đỡ hay tạo lợi ích cho bạn. Định luật nhân quả giản dị như thế. Việc thực hành tịnh hóa Vajrasattva có năng lực mạnh hơn các nghiệp bất thiện, nó có thể che chở cho bạn khỏi trải nghiệm những khó khăn do nghiệp bất thiện mang lại. Do vậy, thực hành tịnh hóa là giải pháp quan trọng nhất cho những khó khăn, và cực kỳ cần thiết, ngay cả cho những người chỉ tin có một kiếp sống này.

Tiếc thay, tâm của những người như vậy thường không rộng mở để học hỏi những điều mới về thực tại của đời sống hay bản tánh của những hiện tượng – những triết lý mới, chủ đề mới. Họ thậm chí cũng chẳng phân tích những khả tính mới. Tất cả cả điều này chỉ ngăn cản họ không kinh nghiệm được hạnh phúc tạm thời hay hạnh phúc tối hậu. Nếu bạn không muốn những khó khăn trong quan hệ, thất bại trong làm ăn, bị bệnh tật như ung thư hay AIDS, bị tai tiếng hay chỉ trích của người khác thì việc thực hành Vajrasattva đặc biệt quan trọng.

Khi nói về sự trưởng thành của tâm linh, việc thực hành tịnh hóa Vajrasattva trở nên quan trọng hơn nhiều. Chẳng hạn, Đức Văn Thù (Manjushri) khuyên Lama Tsong Khapa : “Cách hiện thực hóa con đường giác ngộ nhanh chóng là làm ba việc : tu hành tịnh hóa và tích lũy công đức, chú tâm cầu nguyện đến Đạo sư, và tu hành tâm thức trên con đường giác ngộ.”

Vì những lý do đó, việc thực hành Vajrasattva rất phổ biến ở tất cả bốn truyền thống của Đạo Phật Tây Tạng : Nyingma, Kagyu, Sakya, Geluk, dùng để tịnh hóa những chướng ngại, che ám, nghiệp bất thiện và bệnh tật, Tantra gốc Dorje Gyašn (Trang hoàng Kim Cương) nói rằng nếu bạn luôn luôn không ý thức và cẩn trọng, ngay cả những nhân xấu nhỏ bé cũng gây ra thương tổn to lớn cho thân, ngữ, tâm của bạn giống như nọc rắn lan tràn nhanh chóng khắp thân ngày càng trở nên tệ hại, gây nguy hiểm cho đời sống bạn.

Bậc Đại Giác Pabongka Dechen Nyingpo nói rằng nếu bạn giết một con trùng nhỏ bé mà không tu hành tịnh hóa Vajrasattva trong ngày đó, sức nặng của nghiệp sẽ tăng gấp đôi ở ngày kế tiếp, ngày thứ ba lại tăng gấp đôi và tới ngày thứ 15 sẽ nặng như giết một người. Ở ngày 18 sẽ phát triển 131.072 lần. Vậy bạn thấy đó, hàng tuần, tháng, năm trôi qua, một nghiệp bất thiện nhỏ bé sẽ nhân lên nhiều lần chẳng sớm thì muộn sẽ trở thành một ngọn núi với kích thước của trái đất này. Và đến lúc chết, nó trở nên quá đỗi nặng nề.

Dĩ nhiên, ở đây tôi chỉ nói về nghiệp tiêu cực nhỏ bé, nhưng hàng ngày chúng ta tích tập nhiều, rất nhiều nghiệp tiêu cực của thân, ngữ, ý. Sức nặng của mỗi một nghiệp tiêu tực nhỏ bé tạo ra mỗi ngày lại nhân lên nhiều lần, tạo ra sức nặng không thể tưởng được. Và chắc chắn rằng hàng ngày bên cạnh những nghiệp bất thiện nhỏ bé, chúng ta còn tạo nhiều nghiệp bất thiện to lớn. Cho nên từ vô thủy cũng như ngay trong kiếp sống này chúng ta đã tạo nhiều nghiệp nặng. Nếu bạn quán tưởng về sự nhân lên tiếp tục của tất cả những nghiệp đó thì thật không thể nào tưởng tượng nổi.

Tantra Dorje Gyašn cũng nói nếu bạn tụng niệm chân ngôn Một trăm âm Vajrasattva hai mươi mốt lần trong một ngày, sẽ ngăn ngừa những nghiệp bất thiện phát triển. Những bậc chứng ngộ cao cả, vĩ đại cũng giải thích đây là cách để tịnh hóa bất cứ những sa đọa và phạm giới nào mà bạn đã tích lũy. Hơn thế nữa, Đức Trijang Rinpoche mà tự thân Ngài thực sự là Đức Heruka đã giải thích rằng việc trì tụng chân ngôn ngắn Vajrasattva (OM VAJRASATTVA HUM) hai mươi mốt lần một ngày là một sức mạnh tịnh hóa không thể nghĩ bàn. Chân ngôn này không những có sức mạnh ngăn cản bất cứ nghiệp bất thiện nào đã tạo trong ngày phát triển mà còn tịnh hóa hoàn toàn tất cả những tiêu cực của bạn đã tạo trong ngày hôm nay, trong đời này, và ngay cả trong những kiếp đầu thai từ vô thủy của bạn.

Đây là một số những lợi lạc chẳng thể nghĩ bàn của việc thực hành trì tụng và thiền định Vajrasattva. Hơn nữa, Ngài cũng dạy rằng nếu trì tụng chân ngôn Vajrasattva một trăm âm một trăm ngàn biến bạn có thể tịnh hóa được ngay cả việc phạm đại giới của Tantra Yoga tối thượng (Highest Yoga Tantra). Do đó bạn chắc chắn có thể tịnh hóa được việc phá hư gốc Pratimoksha (sự giải thoát của cá nhân hay biệt giải thoát) và những lời nguyện của hạnh Bồ tát qua kỹ thuật này. 

Những vị thiền giả có kinh nghiệm đã khuyên rằng nói chung rất quan trọng khi cố gắng thực hành tịnh hóa trong cuộc sống hàng ngày, đây là con đường đạt đến những chứng ngộ tâm linh. Ngài Geshe Dolbowa của phái Kadam nói rằng nếu bạn tu hành sự tịnh hóa và sự tích lũy công đức liên tục và chuyển tâm bạn vào đường đạo, những chứng ngộ lam-rim bạn nghĩ trong một trăm năm mới đạt được, sẽ đến với bạn chỉ trong bảy năm. Đó là những hướng dẫn đầy khích lệ của những thiền giả kinh nghiệm cao, đã đạt được những cấp độ khác nhau trên con đường giác ngộ.

Lama Atisha thường nói có vô số không thể nghĩ bàn những cửa sa đọa cho những hành giả đã nhận được sự truyền pháp Tantra Yoga tối thượng. Chẳng hạn chỉ nhìn vào một vật bình thường như một cái lọ và thấy nó như bình thường, là một sa đọa. Cũng như một mạn đà la tinh sạch bị bụi đóng nhanh chóng trên bàn thờ, cũng vậy dòng tâm thức của bạn tiếp tục tích chứa hàng đống tiêu cực trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, khi nghe điều này chớ vội kết luận, những sự nhận lãnh quán đảnh mật chú dễ đưa đến việc sa đọa đẻ không còn có khả năng đạt đến giác ngộ. Lama Atisha nói chỉ có những người vì không biết rằng mật chú chứa đựng những phương tiện thiện xảo không thể nghĩ bàn về sự tịnh hóa những sa đọa nên mới nghĩ như vậy.

Ngài nói : “Chỉ một cục đá có thể ném một trăm con chim, đó là phương tiện thiện xảo được gọi là sự thực hành Vajrasattva.” Điều mà Lama Atisha nói là về một mặt, chỉ trong một phút, thật dễ dàng tích tập một số sa đọa và bất thiện như mưa đổ xuống – chẳng hạn nhìn thấy một đối tượng là bình thường – nhưng mặt khác có phương tiện thiện xảo của tantra như sự thực hành Vajrasattva. Một sự thực hành này sẽ tịnh hóa vô số những tiêu cực do phá vỡ những lời hứa nguyện gốc hay chi nhánh, và trong cách này bạn có thể phát triển tâm thức của mình trên con đường giác ngộ.

Do vậy, việc tu hành Vajrasattva đặc biệt quan trọng – cho cả những ai dù chấp nhận hay không vào sự hiện hữu của sự tái sanh và nghiệp.

Sự bình giảng về Vajrasattva trong quyển sách này là một hướng dẫn đầy kinh nghiệm của Đạo Sư tôi, Lama Yeshe, đã trao cho tôi, người mà ngay cả với cách nhìn thông thường cũng là một đại Yogini, và người đã chăm sóc tôi như một người cha với đứa con duy nhất của mình. Ngài không chỉ trao cho tôi những phương tiện của cuộc sống như thực phẩm, quần áo, mà còn hướng dẫn tôi trong Pháp hơn ba mươi năm ròng.

Bất cứ ai học hỏi quyển sách này và có được cảm hứng để tu hành và ẩn tu về sự thực hành Vajrasattva đều được sự hướng dẫn của lòng bi của Lama. Ngài giải thoát cho bạn nhiều kiếp nghiệp bất thiện, nhiều kiếp đau khổ không thể tưởng được ở những cõi thấp, và cũng như cõi người, trời, và dẫn bạn đến giải thoát và toàn giác.

Cầu chúc cho những ai thấy, tiếp xúc, nhớ lại hay thậm chí nghĩ hoặc nói về quyển sách này được không bao giờ sanh vào những cõi thấp, chỉ nhận được sự đầu thai thành một con người hoàn hảo, gặp được những thiện tri thức Đại thừa đức hạnh và đầy đủ phẩm tính, thực hành tịnh hóa Vajrasattva mỗi ngày và mau chóng thành tựu trạng thái giác ngộ của Đạo Sư Vajrasattva. Đây là điều mong ước của tôi.

Cám ơn các bạn rất nhiều.

Thubten Zopa

 

Lời Tựa

Lama Thubten Yeshe (1935-1984) truyền pháp Heruka Vajrasattva lần đầu tiên cho khoảng hai mươi lăm người đệ tử phương Tây tại tu viện Kopan thuộc Nepal vào tháng 4 năm 1974.

Những chi tiết đáng chú ý về cuộc đời Lama Yeshe giờ đây có thể tìm thấy ở một số nơi, từ cuốn sách tuyệt vời của Vicki Mackenzie, Sự Tái Sanh của Hài đồng Lama, và phụ trương của Tạp chí Trí Huệ, cho đến sự giới thiệu, lời mở đầu, lời tựa của những tác phẩm xuất bản trước của Ngài : Năng lực của Trí huệ và Giới thiệu về Tantra. Adèle Hulse đang viết một tiểu sử chính thức cho nhà xuất bản Trí Huệ.

Nhưng có lẽ sự mô tả hùng biện nhất về những phẩm tính phi thường của Lama Yeshe là của Lama Thubten Zopa Rinpoche. Ngài là đệ tử chính và tâm đắc, trong quyển “Lòng từ ái của Đạo Sư” và trong bài điếu văn của Ngài Zopa đọc sau khi Lama Yeshe viên tịch năm 1984.

Lama Yeshe không chỉ là Vị Kim Cương Sư siêu tuyệt mà còn là người gợi ý ra xây dựng Hội Bảo Tồn Truyền Thống Đại Thừa (FPMT), một tổ chức thế giới của những trung tâm giáo lý và thiền định Phật giáo cả nông thôn lẫn thành thị, những tu viện, những nơi nhập thất, những trung tâm chữa bệnh, và những nhà xuất bản trên khắp thế giới.

Lần đầu tiên tôi gặp Lama năm 1972, trong lúc tham dự khóa thiền định Kopan thứ ba, khóa đầu tiên của tôi. Việc giảng dạy được ngài Zopa đảm nhiệm, và hầu hết năm mươi học sinh đang theo học đều không biết có vị Lama khác ở Kopan. Có ai đó biết tôi là thầy thuốc và khoảng một tuần vào khóa học, tôi được mời đi thăm bệnh một Lama bị nhiễm trùng ở chân. Tôi được dẫn vòng ra sau một ngôi nhà cũ kỹ ở Kopan (bây giờ tiếc thay ngôi nhà đã hư hoại), ở đó có một vị tu sĩ Tây Tạng khiêm tốn với nụ cười rộng mở, hết lời cảm ơn dù tôi chưa làm gì. Nhưng ngài biết điều tôi không biết, rằng cuộc đời tôi đã bắt đầu thay đổi.

Khi mũi chích penicillin đầu tiên của tôi bắn vọt ra khắp phòng thay vì vào mông của Ngài, với một nụ cười, Ngài mời tôi trở lại : “Bạn thân mến, ngày mai cố gắng làm lại nhé.” Vì thế, tôi đến gặp Ngài mỗi ngày vào tuần sau, các bạn đạo của tôi bắt đầu loan truyền rằng nghề của tôi đã dở đi. Mười tám tháng sau, khóa học ở Kopan nổi tiếng đến bây giờ, tổ chức hai lần trong năm đã thu hút trên hai trăm người, đa số họ đều là người phương Tây trẻ đi du lịch Ấn Độ và Nepal. Hai mươi người chúng tôi được nguồn cảm hứng từ tấm gương vô song của Thầy chúng tôi, đã thọ giới làm Tăng, Ni. Vào mùa xuân năm 1974, đúng sau khóa học Kopan thứ sáu sau vài năm giảng dạy kinh điển về con đường tiệm đạo giác ngộ, Lama cảm thấy chúng tôi đã sẵn sàng cho Tantra. Ngài chọn sự thực hành tịnh hóa Heruka Vajrasattva và biên tập cho chúng tôi sadhana hay phương pháp thành tựu từ Tantra Chakrasamvara. Rồi Ngài ban cho năm buổi thuyết pháp bình giảng về sadhana và một bài giảng rộng về việc nhập thất thiền định như thế nào.

Quyển sách này bao gồm những bài giảng của Lama về thực hành Vajrasattva, những giáo huấn chi tiết về ẩn tu chủ yếu căn cứ trên sự giảng dạy lúc đầu, sáu bài giảng đặc biệt, phần lớn được đưa ra như sự mở đầu giới thiệu vào những buổi lễ quán đảnh Heruka Vajrasattva tại những trung tâm FPMT trên khắp thế giới, và hai bình giảng về Heruka Vajrasattva Tsok do chính Ngài biên soạn năm 1982. Trong phần phụ lục sẽ thấy sadhana và bản văn tsok bằng Tạng ngữ, phiên âm Tây Tạng và tiếng Anh để dễ tán tụng, và một phương pháp cúng cho những hồn linh địa phương, shi-dak torma. Nhưng Lama đã nhấn mạnh trong phần giới thiệu “để thực hành Heruka Vajrasattva bạn cần phải được làm lễ truyền pháp tantra yoga tối thượng và giáo huấn từ một vị Lama đầy đủ phẩm tính.”

Trong tính cách này, người đọc cũng cần chú ý rằng vì những giảng dạy trong sách này đến từ truyền thống khẩu truyền và nhắm vào những hành giả. Phạn ngữ và Tạng ngữ không được diễn đạt theo cách học giả mà là cách phát âm đúng và không có các dấu phụ.

Một điểm khác là trong những bài giảng, Lama Yeshe thường dùng từ “người phương Tây” để chỉ những thính giả vào lúc đó và không được loại bỏ. Tuy nhiên, những đọc giả không phải người phương Tây không nên cảm thấy bị bỏ rơi vì lòng bi và trí huệ của Lama chiếu sáng mười phương hoàn toàn không thiên vị.

Những bài viết của Lama năm 1974 đã được các Tăng Ni của Viện Đại Thừa Quốc Tế ghi âm và sao chép. Trước tiên cho công việc nhập thất và tu hành Heruka Vajrasattva của họ vào mùa xuân 1974. Tôi đã dành thời gian hơn bốn tháng cho bản viết tay tại hang động Charok ở Lawudo, không cách xa Lawudo Gompa nơi ẩn tu của Lama Lawudo, là tiền kiếp của Lama Zopa Rinpoche. Đây là đỉnh cao của cuộc đời tôi, và tôi khuyến khích cho mọi người việc nhập thất theo những bình giảng của Lama. Và khoảng chừng mười huynh đệ kim cương lên xuống núi Lawudo ở quanh tôi, cùng làm một sự thực hành, là một cảm hứng lớn lao. Đó là thời gian tuyệt vời.

Cùng lúc ấy, khoảng chừng hai mươi thiền giả khai mạc nhóm nhập thất cùng với FPMT tại Kopan Gompa và một nhóm nhập thất ba tháng Heruka Vajrasattva vẫn được hướng dẫn hàng năm tại Trung tâm Nhập thất Tushita, phía trên Dharamsala Ấn Độ, và trung tâm Milarepa, Vermont USA và một số không thường xuyên thuộc các trung tâm khác.

Sau nhập thất, Lama làm việc với Thượng tọa Marcels Bertel và Thượng tọa Yeshe Kharda để bổ sung cho sadhana và bản bình giải. Trong hầu hết hai mươi năm, nhiều hành giả nhập thất Heruka Vajrasattva đã dựa vào ấn bản tuyệt vời của Marcels, và sau đó được in lại trong dạng chép tay nhiều lần bởi hai tu viện Kopan và Trí Huệ. Nó là căn bản của phần 1 và 2 trong quyển sách này.

Tôi bắt đầu làm việc về quyển “Con đường Tantra về sự tịnh hóa” sau khi Lama Yeshe cử tôi làm giám đốc nhà xuất bản Trí Huệ vào năm 1981. Sau những lời giảng dạy của Lama về Sáu Yoga của Naropa tại viện Lama Tsong Khapa vào đầu năm 1983, bảy người chúng tôi như được mô tả chi tiết bởi Jon Landaw trong quyển Giới thiệu về Tantra cùng nhau nhập thất biên soạn gần Cécina, Italy, làm việc với một số những lời giảng khác của các Lama để xuất bản. Trong nhiều chuyện khác, chúng tôi được biết Lama thật độc đáo trong việc sử dụng cực kỳ sáng tạo tiếng Anh như nhà nhập thất Robin Bretano tinh tế nhận xét, đến nỗi sự biên tập lời ngài cũng giống như chuyển dịch. Sự khó khăn do việc biên soạn những lời giảng của Lama là đáp ứng đúng với ý nghĩa của Ngài, văn phạm chính xác, âm điệu giống như Lama. Tất cả chúng tôi đã làm hết khả năng với những khó khăn này.

Tôi đọc bản phác thảo của bình giảng chính cho Lama nghe tại Trung tâm nhập thất Tushita vào tháng 4 năm 1983 và Ngài đã bổ sung nhiều sửa chữa. Tôi cất giữ những băng ghi âm về những buổi gặp đó cũng như ghi nhớ tất cả những lúc tôi ở với Lama. Tất cả mọi đề nghị của Ngài đều được kết hợp vào trong sách này.

Tôi biên soạn những lời dạy sau – những bài giảng Heruka Vajrasattva không thường xuyên của Lama và những bài viết của Ngài về cúng dường Heruka Vajrasattva Tsok năm 1993 tại Kinglake, Victoria, Australia.

Lama Yeshe là một người ủng hộ lớn lao cho việc thực hành tịnh hóa Heruka Vajrasattva. Một lần ngài bày tỏ hy vọng rằng tất cả đệ tử của Ngài dành thời gian nhập thất tối thiểu một lần trước khi chết. Sau khi Lama ra đi, theo như ước mong của Ngài, một nhóm đệ tử duy trì thời khóa suốt ngày đêm việc thực hành Heruka Vajrasattva trong vòng mười hai tháng tại tu viện Kopan, và những giai đoạn ngắn hơn tại Trung tâm nhập thất Osel Ling, Spai và Mahamudra (Đại Ấn) ở New Zealand.

Từ lòng đại bi của Lama và phước nguyện nhỏ bé của những đệ tử, vào ngày 12 tháng 2 năm 1985 Ngài đã trở lại với thế gian này như là Lama Tenzin Osel Rinpoche, và chúng tôi cầu nguyện Ngài một lần nữa giảng dạy việc thực hành Heruka Vajrasattva cho những đệ tử của Ngài và có lẽ, sẽ sửa chữa những lỗi lầm có trong sách này.

Lời cảm tạ

“Cảm ơn Rinpoche vì ngài đã thay đổi cuộc đời con.” Tôi đã nói với Lama Zopa Rinpoche vào lúc kết thúc khóa thiền định Kopan đầu tiên của tôi (Ngài chỉ cười). Tất cả chúng tôi trong FPMT tiếp tục cảm ơn Lama Zopa Rinpoche, ngọn hải đăng sáng rỡ của trí huệ và đại bi của chúng tôi và là một khuôn mẫu sống của những chứng ngộ. Khi Lama Yeshe viên tịch, Rinpoche duy trì liên tục việc phát triển của FPMT cho đến nay gồm hơn bảy mươi trung tâm ở mười bảy nước trên khắp thế giới, trong lúc tiếp tục dẫn dắt tâm linh những đệ tử ngày càng phát triển trên khắp thế giới bằng cả cách ứng xử vô song và những lời dạy thâm sâu của Ngài.

Dự án này và nhiều dự án khác đã và sẽ làm lợi lạc ngay cả trong tương lai xa hơn, từ công việc đặc biệt do Peter và Nicole Kedge và Thượng tọa Alisa Cameron trong xây dựng và duy trì Tài Liệu Trí Huệ về những lời dạy của Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche. Mỏ kim cương được vi tính hóa này sẽ tiếp tục sản sinh những lời dạy vì lợi ích chúng sanh trong một thời gian dài và với tư cách là nhà xuất bản những lời dạy này, chúng tôi đặc biệt biết ơn công việc thiện nguyện của họ.

Không cần phải liệt kê những gì họ đã giúp đỡ, vì họ đã làm quá nhiều. Tôi cũng cám ơn Ven. Geshe Lama Lhudrub Rigsel, Viện trưởng tu viện Kopan, Ven. Marcel Petels, Ven. Yeshe Khardo, Ven. Thubten Peno, Ven. Thubten Wongmo, Ursula Bernis, Ven. Ann McNeil, Ven. Max Matthew, Ven. Ronina Courtin, Jonathan Landaw, Ven. Roger Kunsang, Tim McNeil, Thubten Chošdak, Piero Cerri, những thành viên biên soạn nhập thất của Cecina Mare, Mary Moffat, Gookie Claire, Ritter, Beatrice Ribush mẹ tôi, Dorian và Alison Ribush, Wendy Cook, Ven. Geshe Tsulga (Tsultrim Chopel), David Molk, Ven. George Churinoff và Vincent Montenegro. Tôi cũng cám ơn FPMT dã cung cấp những lời dạy cho quyển sách này và những đệ tử thiện nguyện đã biên soạn lại những băng ghi âm. Chúng tôi đặc biệt cám ơn Peter Iseli đã trang hoàng bìa sách bằng bức họa Heruka Vajrasattva thật đẹp, chuyển từ mẫu vẽ đẹp đẽ của Lisa Sawlit.

 Nicolas Ribush

Lời Giới Thiệu 
Của Người Biên Tập

SỰ TỊNH HÓA – BỐN SỨC MẠNH ĐỐI TRỊ 
VÀ SỰ THỰC HÀNH VAJRASATTVA

Trước khi Lama Yeshe bắt đầu giảng dạy và làm lễ truyền pháp Tantra như đã nói ở trên, Ngài chắc chắn những đệ tử Tây phương của Ngài đã đã rành rẽ ba phương diện chính của con đường kinh điển – từ bỏ, Bồ đề tâm và chánh kiến về tánh Không với đệ tử chính của Ngài, Lama Thubten Zopa Rinpoche, ẩn tu một tháng hai lần trong năm về lam-rim (con đường thứ bậc đến giác ngộ). Sau sáu “khóa học Kopan” này Lama quyết định những đệ tử của Ngài đã sẵn sàng cho tantra yoga tối thượng (maha anuttara) và đồng ý làm lễ nhập môn cho họ vào sự thực hành tịnh hóa của Heruka Vajrasattva.

Trong Giới thiệu về Tantra và Lạc của Nội Hỏa của Ngài, Lama Yeshe đã diễn giải sự liên quan giữa Kinh (Sutra) và Mật (Tantra) là hai phần chính yếu của Phật giáo Đại thừa. Những hướng dẫn xa hơn có thể tìm thấy ở những trang sách này và những tựa sách đề nghị tham khảo thêm. Tuy nhiên, để đặt sự tịnh hóa vào mạch văn, chúng tôi chỉ cần nhắc lại lời khuyên của Đức Văn Thù (Manjushri) cho Lama Je Tsong Khapa : Để đạt được những chứng ngộ tâm linh người ta phải phối hợp thiền định về con đường giác ngộ với sự tịnh hóa, tích tập công đức và cầu nguyện với vị Đạo sư như một Đức Phật. Như Lama giải thích phương pháp yoga của Heruka Vajrasattva bao gồm tất cả những điều đó, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào khía cạnh tịnh hóa.

Không có sự tịnh hóa tâm thức bạn để chuẩn bị cho những chứng ngộ tâm linh, bạn sẽ có rất ít tiến bộ trên con đường giác ngộ. Những phương pháp tịnh hóa được diễn bày trong quyển sách này là loại mạnh mẽ nhất đã từng được dạy. Trong thực hành Đạo Phật, sự tịnh hóa là khoa học đặt căn bản trên một sự thấu hiểu về cơ chế tâm lý của nghiệp hay hành động, luật nhân quả và kèm theo sự áp dụng bốn sức mạnh đối trị.(1) Đôi khi được gọi là “Sự sám hối,” sự tịnh hóa rất khác cách hiểu thuật ngữ này của người cơ đốc mặc dù có thể tìm thấy vài điểm tương đồng.

Những hành động của thân, khẩu, ý để lại dấu vết trên thức giống như những hạt giống gieo trên một cánh đồng. Khi những điều kiện hội đủ, những dấu in chín mùi và trở thành kinh nghiệm. Những dấu in tích cực hay thiện nghiệp đem lại kết quả hạnh phúc, những dấu in tiêu cực hay bất thiện đem lại đau khổ. Sự khác nhau giữa hai điều trên được giải thích rất rõ trong quyển “Cánh Cửa đến sự Mãn Nguyện” của Lama Zopa Rinpoche.

Mỗi một hành động đều có bốn khía cạnh xác định cho dù nó được hoàn tất hay chưa hoàn tất : động lực, đối tượng, sự thực hành và sự hoàn tất. Chẳng hạn, để hoàn tất một hành động sát hại đòi hỏi động cơ hay ý muốn giết, một chúng sanh là đối tượng để giết, sự thực hiện là hành động cho dù trực tiếp hay gián tiếp là tự mình làm ra hay ra lệnh cho người khác làm, và sự hoàn tất của hành động là cái chết của chúng sanh trước người giết.

Nếu một hành động hoàn tất trong tất cả bốn phương diện nó trở thành cái được gọi là nghiệp đã gieo. Một hành vi có thể xác định tình trạng đầu thai của bạn bằng việc đẩy bạn vào một trong sáu cõi của sanh tử. Nếu một hay hơn nữa trong bốn khía cạnh chưa thực hiện, hành động trở thành nghiệp đang hoàn tất, xác định tính chất kinh nghiệm bạn sẽ chịu trong tương lai. Một nghiệp đang hoàn tất đem lại ba loại kết quả : kết quả tương tự với nguyên nhân trong kinh nghiệm, kết quả tương tự với nguyên nhân trong thói quen, và những kết quả thuộc môi trường. Do đó, một nghiệp bất thiện được hoàn tất phải chịu bốn quả đau khổ. Chẳng hạn bốn kết quả của sự giết có thể tuần tự : đầu thai ở địa ngục, cuộc sống ngắn ngủi vì bệnh tật, có chiều hướng muốn giết chúng sanh khác và đầu thai vào những chỗ nguy hiểm.

Dù mọi điều này áp dụng đồng đều với hành động thiện hay bất thiện, chúng ta tập trung ở đây vào việc tịnh hóa. Bốn sức mạnh đối trị tác động – và tất cả đều cần thiết – vì mỗi cái sẽ chống lại một trong bốn kết quả của nghiệp bất thiện. Sức mạnh thứ nhất là quy y và phát Bồ đề tâm, được gọi là sức mạnh của đối tượng, hay sức mạnh của sự nương dựa và tịnh hóa nghiệp đã gieo gây ra sự tái sanh của bạn vào ba cõi thấp. Nó được gọi là sức mạnh của sự nương dựa vì sự hồi phục của chúng ta tùy thuộc vào đối tượng làm chúng ta bị tổn thương. Chẳng hạn, để đứng dậy sau khi đã ngã té và tự làm tổn thương, bạn nương dựa vào chính nền đất đã làm bạn bị thương. Tương tự, hầu hết nghiệp bất thiện chúng ta tạo ra đều là với đối tượng thiêng liêng hay chúng sanh. Để tịnh hóa chúng ta phải quy y những đối tượng thiêng liêng và phát Bồ đề tâm vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.

Sức mạnh thứ hai là sức mạnh buông bỏ, nó chống lại kết quả tương tự với nguyên nhân trong kinh nghiệm. Sức mạnh thứ ba là sức mạnh của sự chữa trị, nó đối trị với kết quả về môi trường, cuối cùng sức mạnh thứ tư là sự quyết tâm không có gì hủy hoại được nhờ đó chúng ta vượt qua được khuynh hướng có thói quen nhiều đời tạo nghiệp bất thiện lập đi lập lại. Như thế trong việc hóa giải bốn kết quả của nghiệp xấu, bốn sức mạnh đối trị tịnh hóa chúng một cách hoàn toàn, ngăn ngừa chúng ta chịu những kết quả của chúng. Loại lý luận minh bạch và đầy đủ này nằm sau tất cả những giải thích và thực hành của đạo Phật, góp phần khiến đạo Phật hấp dẫn những người trí thức và có học tìm kiếm tâm linh ngày nay.

Sức mạnh thứ ba gồm nhiều loại chữa trị, từ việc lễ lạy, xây dựng bảo tháp đến việc tụng niệm chân ngôn một trăm âm Vajrasattva, tới việc thiền định về tánh Không. Lý tưởng thay một số điều này được thực hành cùng lúc. Trong bình giảng, Lama Yeshe nhấn mạnh sự chứng ngộ tánh Không và sự tịnh hóa tuyệt đối và chỉ dẫn chúng ta làm thế nào thực hành đúng đắn sadhana, bao gồm bốn sức mạnh đối trị, dẫn dắt chúng ta một cách hệ thống đến sự chữa trị thực tiễn trong sự thực hành, hay trì tụng chân ngôn. Sự giải thích tỉ mỉ của ngài về kỹ thuật Đại thừa của quy y bên trong như một phần sức mạnh của đối tượng là hiếm có và độc nhất.

Lama Yeshe đã làm cho cách thực hành tịnh hóa Vajra-sattva trở nên rõ ràng và rất hiệu nghiệm để dành cho việc ẩn tu. Bởi thế, Ngài đã đưa những giáo huấn chi tiết về mọi khía cạnh của nhóm và cá nhân nhập thất, thật ra những giáo huấn này hữu ích cho bất kỳ loại nhập thất nào.

Sáu bài thuyết pháp trong phần 3 rất tuyệt vời, những bài thuyết pháp chia thành từng cụm nhỏ giúp người nhập thất Vajrasattva sẽ tìm thấy lợi lạc khi đọc giữa những thời công phu. Tuy nhiên không một ai trong chúng tôi khi đọc những cuộc nói chuyện tuyệt hảo này mà không cảm hứng bởi năng lực kích động có một không hai của Lama.

Cuối cùng, tất cả hành giả của Tantra mẹ yêu cầu được cúng lễ Tsok vào ngày thứ mười và hai mươi lăm của lịch Tây Tạng, và phần lớn lễ thực hành Guru Puja cũng làm như vậy. Tuy nhiên, Heruka Vajrasattva Tsok mà Lama biên soạn cũng là một phương tiện tuyệt diệu đáp ứng cam kết này, đặc biệt trong khi nhập thất Vajrasattva, và hy vọng của chính Lama rằng các đệ tử của Ngài và những người khác thêm lễ Puja Tsok này như một phần trong việc thực hành đều đặn của họ.

Người ta thường nói rằng những giáo lý lam-rim giống như một bữa ăn sẵn sàng để ăn – là con đường có tính luận lý trong đó sự sắp xếp làm cho dễ thấy toàn bộ giáo pháp và dễ biết theo thứ tự một loạt bao la những thiền định Phật giáo cần thực hiện để hành giả đạt tới giác ngộ. Trong Con đường Kim Cương thừa về sự Tịnh Hóa Lama Yeshe đã chuẩn bị một bữa tiệc Tantra cho tất cả được thưởng thức.

 

Dẫn Nhập 
Những Vị Trí Hãy Cẩn Thận!

Trong một lễ truyền pháp quán đảnh vị Guru cầu gọi đến năng lực thiêng liêng của vũ trụ, biểu hiện như trí huệ đại lạc thiêng liêng trong hình dáng của vị hóa thần riêng biệt – trong trường hợp này là Đức Heruka Vajrasattva. Năng lực này kích hoạt một sức mạnh ngủ vùi trong hệ thần kinh các đệ tử mà bây giờ được đánh thức và bắt đầu rung động. Nếu bạn phát sanh trạng thái tâm thức vị tha đúng đắn và một hiểu biết về tánh Không, tụng niệm chân ngôn Vajrasattva, bạn sẽ lưu giữ và làm gia tăng sự rung động đã được Đạo Sư kích hoạt. Bấy giờ qua một giai đoạn thiền chỉ (thiền định tĩnh lặng) bạn khởi đầu một tâm thức tĩnh lặng, tham thiền, giải thoát khỏi dòng những tư tưởng không kiểm soát, mê mờ thông thường của bạn, thì trí huệ nội tại nơi bạn sẽ tự động tự hiển lộ.

Nhưng, có một lời cảnh báo với người trí thức. Tự mình đọc những giáo lý Tantric không có sức mạnh của lễ truyền pháp thích hợp, chỉ là một tiêu khiển tri thức – chỉ bằng cách thực hành đứng đắn dưới sự dẫn dắt của một vị thầy đầy đủ phẩm tánh và kinh nghiệm mới có thể giúp bạn tiến bộ vượt khỏi tri thức, vượt khỏi những khái niệm của tư tưởng, dẫn đến trí huệ chân thật, thanh tịnh và tự nhiên. Không phải tôi cố ý tạo sự huyền bí, hay chuyên dành riêng ở đây, mà chỉ nói rằng nếu bạn nghĩ bạn có thể hiểu, kinh nghiệm một mình về những phương pháp của Yoga Tantra chỉ bằng cách đọc sách tức là bạn đang đánh lừa chính bạn – giống như một người bệnh hấp hối tự làm bác sĩ cho mình với cùng những phương pháp đã làm cho người đó bệnh…

Phương pháp yoga Heruka Vajrasattva nên được thực hành chỉ cho những ai đã nhận lễ quán đảnh và khẩu truyền từ một vị Kim Cương Sư chứng ngộ. Mặc dù bình giảng được xuất bản ở đây vốn có giá trị vô hạn và phải được nghiên cứu đầy đủ trước khi thực hành những phương pháp nó mô tả, bạn phải nhận được lễ truyền pháp nhập môn và một số hướng dẫn từ vị đạo sư của bạn. Nếu làm khác đi, thì thay vì cho bạn cái kinh nghiệm trực tiếp bạn tìm kiếm, nó sẽ trở thành sự luyện tập tri thức khô khan và chỉ có ít lợi ích, tương đối.

Thiền giả vĩ đại Tây Tạng Dharmavajra giải thích lễ quán đảnh Tantra yoga tối thượng Heruka Vajrasattva là một nét đặc biệt của truyền thống Gelug của Phật giáo Tây Tạng. Tantra yoga tối thượng bao gồm những phương pháp nhờ đó bạn có thể đạt đến giác ngộ chỉ trong một đời hay thậm chí như trường hợp của Lama Tsong Khapa chỉ có ba năm. Lẽ dĩ nhiên những lời dạy thâm sâu ấy không hề được xuất bản, nhưng những phương pháp vẫn còn hiện hữu, không thoái hóa trong tâm trí của một số hành giả. Những giáo lý mật truyền này của Đức Phật có thể được trao truyền chỉ qua sự tương thông nội tại không chướng ngại giữa vị Kim Cương Sư (Vajra Guru) và đệ tử. Một ít người nhận thức rằng những phương pháp đầy sức mạnh như vậy vẫn có thể tìm thấy trong những lời dạy của phái Geluk.

Toàn bộ truyền thống của những yogi Tây Tạng đã làm cho phương pháp Yoga Heruka Vajrasattva thành một kinh nghiệm sống. Trước khi bạn có thể hiện thực hóa giai đoạn phát sanh (kye-rim) và giai đoạn thành tựu (dzok-rim) của tantra yoga tối thượng, bạn phải tự tịnh hóa. Thực hành Vajrasattva là một trong những cách có sức mạnh nhất để làm điều đó. Sau khi nhận lễ truyền pháp, bạn nhập thất, trong đó bạn tụng một trăm ngàn biến chân ngôn Vajrasattva một trăm âm. Điều này giúp bạn thực hành hai giai đoạn của Tantra được nhiều hiệu quả hơn. Nếu bạn không tịnh hóa những thói quen lâu đời của thân, ngữ, ý, thì ngay cả nếu bạn có những nỗ lực to lớn về thiền định trên con đường giác ngộ, bạn sẽ không đạt được giác ngộ vì có quá nhiều chướng ngại trên con đường của bạn.

Bởi thế, bạn nên xen kẽ tịnh hóa với thiền định về lam-rim. Ngay cả việc cố gắng hoàn thành tập trung nhất tâm (vipasyana) mà không có sự tịnh hóa là nguyên nhân khiến bạn trở nên chán nản, cảm thấy vô hy vọng và thối chí vì thấy mình thiếu tiến bộ. Điều này bởi vì không nhận biết hay không đối phó được với những chướng ngại do những quan niệm sai lầm của tâm thức và những hậu quả của nó – thân và ngữ bị ô nhiễm.

Một số hành giả không được hướng dẫn, cố gắng kinh nghiệm tánh Không đơn giản bằng việc bác bỏ sự hiện hữu của tất cả hiện tượng, bị ám ảnh bởi ý niệm rằng tánh Không là một loại hư vô mơ hồ nào đó. Nếu bạn muốn hiện thực hóa tri kiến chân chánh về tánh Không chẳng hạn như của trường phái Trung Quán (Madhayamaka) hay những phái Thiền tông Phật giáo, bạn phải thực hành cả hai thứ phương tiện và trí huệ. Một số người quan tâm lớn lao đến trí huệ nhưng chẳng có ai để ý gì đến phương tiện – Họ giống như con chim cố gắng bay với chiếc cánh gãy.

Bất cứ khi nào bạn gặp chướng ngại hay bị gián đoạn trong thực hành của mình, đừng nên nản lòng hay thất vọng. Hãy nhận thức rằng bạn cần tịnh hóa, và lúc đó tập trung vào phương tiện hơn là trí huệ, đúng thời gian bạn sẽ đạt được sự tỉnh thức mà bạn tìm kiếm.

 

Source: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-81_4-5534_5-50_6-1_17-353_14-1_15-1/

 

[Mục Lục] [1] [2] [3] [4] [Phụ Lục]