BẢO TẠNG THIÊN

 

 

Bảo Tạng Thiên còn xưng là Bảo Tạng Thiên Nữ. Đây là vị Thần chủ về phước đức cho nên được xem như đồng với nhóm Cát Tường và Biện Tài Thiên…

Bảo Tạng Thiên có tên Phạn là Tra La Khư nhưng không phải được dịch âm từ chữ Phạn Bảo Tạng ( Ratna garbha ) lại do Bảo Tạng Thiên Nữ Đà La Ni Pháp xưng Bảo Tạng Thiên Vương là Tra La Khư mà có.

Phạn Ngữ Tra La Khư thì chẳng rõ. Nhưng Phạn Ngữ có chữ Tàrakha mang nghĩa là Người cứu trợ và đây cũng là tên gọi của một loài Quỷ ác. Ngoài ra trong Đồ Tượng quyển 3 có ghi câu Phạn Chú là :” OMÏ_ DARAGA  DARAGA  VIDARADI  SVÀHÀ “ và được dịch âm là : ” Án, tra la khư, tra la khư, tỳ đa la nễ, sa-phộc ha “. Như vậy Tra La Khư là dịch Âm của Phạn Ngữ Daraga.

Nay theo sự khảo cứu của chúng tôi thì Phạn Ngữ Daraga không biết rõ nghĩa mà chỉ có Phạn Ngữ Dàraka mang ý nghĩa là : bẻ gẫy, đập phá, hủy diệt, từ bỏ thói quen, tạo nên sự gián đoạn, cắt đứt quan hệ, chia ly, xé rách, xé nát, tàn phá, khiển trách… Ngoài ra trong Pháp Quán Tưởng Đàn của Tra La Khư Pháp thì lại quán chữ TRA (            ) biến thành viên ngọc báu, rồi viên ngọc báu biến thành Thiên Nữ. Như vậy chữ Tra La Khư có thể là Phạn Ngữ Tàraka Và câu Chú :” Án, tra la khư, tra la khư, tỳ đa la nễ, sa-phộc ha “ có thể được phục hồi là :

OMÏ_ TÀRAKA  TÀRAKA  VIDARADI_ SVÀHÀ

( Hỡi Đấng Cứu Trợ ! Hãy giúp cho con. Khiến cho con xa lìa sự nguy hiểm sợ hãi, thành tựu điều tốt lành )

_ Bảo Tạng Thiên Nữ Đà La Ni Pháp ghi là :” Vị Thiên này có đủ uy đức lớn , thần lực không gì sánh, hay ở Thế Gian hành các việc thù thắng như : lay trời động đất, dời núi lấp biển, việc hơn thua trong binh qua đều theo ý chí mà thành. Tiền của, lụa là , vàng , báu chất cao như núi.Hay mãn các nguyện mong cầu về : quan vị, kỹ nghệ, phòng giặc cướp, trị bệnh…. Hình tựợng Thiên Nữ , thân khoác áo bào đỏ tía, thắt dây lưng bằng vàng, đi giày ủng màu đen. Tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm Như Ý Bảo Châu, diện mạo đoan chíng sáng tỏ “

_ Thầy truyền là :” Thiên Nữ có Chủng Tử HÙMÏ (            ) Tam Ma Gia Hìng là Viên Ngọc Báu “

BẢO TẠNG THIÊN NỮ PHÁP

_ Thắng Câu Chi Viện ghi là :Tượng Bảo Tạng Thiên Nữ dài 2 thước 5 thốn. Quán Tưởng như sau

Trên Đàn có cái Tòa bằng lụa ngũ sắc, bên trên có chữ TRA (            ) biến thành viên ngọc báu. Viên ngọc báu biến thành Thiên Nữ: đầu đội mão hoa, trang điểm bằng hoa đoan chính, thân khoác áo bào đỏ tía, thắt dây lưng bằng vàng, đi giày ủng màu đen, . Tay phải cầm hoa sen. Tay trái cầm viên ngọc Như Ý, tỏa ánh hào quang có uy đức không gì sánh bằng.

Tay trái co ngón giữa, ngón vô danh, đem ngón cái đè lên móng 2 ngón, duỗi thẳng ngón trỏ và ngón út để ngang trái tim. Tay phải cầm tràng hạt. Niệm Chân Ngôn:

“ Án, tra la khư, tra la khư, tỳ đa la nễ, sa-phộc ha “

Tụng đủ một ngàn biến, các Nguyện sẽ như ý.

_Bảo Tạng Thiên Nữ Tán :

Vi diệu thù thắng khó luận bàn

Sáng như mặt trời tỏa hương thơm

Dung nhan đoan chính thật hiếm có

Da mềm láng mịn tựa Đâu La ( Loại Gấm Lụa quý )

Hơi thơm từ miệng tràn nhân thế

Khiến ai gặp gỡ cũng nhìn trông ( chiêm ngưỡng)

Một lòng mong cầu người như vậy

Thường thêm cung kính, Tâm chẳng nghi

Tuy đây là việc của Thế Gian

Rốt ráo mau thành Đạo Thanh Tĩnh

Hay khiến người Trì đến Bồ Đề

Cùng nhau tu tập Vô Thượng Giác

Chọn ngày mồng năm tháng năm. Trước đó 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 100 ngày hoặc 39 ngày tính đến ngày mồng năm tháng năm thì vừa vặn đủ, ắt Pháp ấy đều thành.

Riêng 8 câu Chú, tụng mỗi câu 21 biến trước khi tác Pháp thì Đồ Tượng 3 ghi nhận hơi khác với Kinh Bản

1 ) Án, hưng bà la đế tra, cấp cấp cấp, sa-phộc ha

2 ) Án, chiết la đế tra ma gia, sa-phộc ha “

3 ) Án, lặc xoa na đế tra, sa-phộc ha

4 ) Án, bà bà lệ nhạ đế, sa-phộc ha

5 ) Án, bột nhạ la đế tra , sa-phộc ha

6 ) Án, dược xoa , dược xoa tế na, sa-phộc ha

7 ) Án, già đế tỳ chiết duệ, hồng phấn, sa-phộc ha

8 ) Án, chiết lặc na gia đáo bà đế tra, sa-phộc ha

Nay phối hợp với phần dịch âm của Kinh Bản, chúng tôi xin phục hồi 8 câu Chú trên là :

1 ) OMÏ ( Cảnh giác ) HAVAHÏ  ( Lời kêu gọi ) RASITA ( Hương vị đem lại tâm tư tình cảm ) JAHÏ  JAHÏ  ( Câu triệu, kêu gọi khiến cho mau đến ) SVÀHÀ ( Quyết định thành tựu )

2 ) OMÏ ( Quy mệnh ) ‘SVA ( Tự tính ) RASITA ( Hương vị đem lại tâm tư tình cảm ) MÀYÀ ( Huyễn hóa ) SVÀHÀ ( Quyết định thành tựu )

3 ) OMÏ ( Quy mệnh ) LAKSÏANÏA ( Hình tướng ) ‘SITÏA ( Thon thả mảnh mai ) SVÀHÀ ( Thành tựu tốt lành )

4 ) OMÏ ( Quy mệnh ) BHAVA ( Hữu, sự có sự được ) ALA ( Thượng Đế, Thánh Thần ) JATÏI ( Phát sinh ) SVÀHÀ ( Quyết định thành tựu )

5 ) OMÏ ( Cảnh giác ) BHUJA ( Chi phối , lãnh đạo,thưởng thức ) RASITA ( Hương vị đem lại tâmtư tình cảm ) SVÀHÀ ( Quuyết định thành tựu )

6 ) OMÏ ( Quy mệnh ) YAKSÏA ( Dược Xoa ) YAKSÏASENA ( Dược Xoa Quân ) SVÀHÀ ( Thành tựu tốt lành )

7 ) OMÏ ( Quy mệnh ) GATE ( Thú hướng, lối nẻo ) VI’SVAYE ( Nhóm xảo diệu ) HÙMÏ ( Khủnh bố ) PHATÏ ( Phá bại ) SVÀHÀ ( Thành tựu tốt lành )

8) OMÏ ( Quy mệnh ) SVARA ( Âm thanh ) NAYA ( Lý thú ) RASITA ( H7ơng vị đem lại tâmtư tình cảm ) SVÀHÀ ( Thành tựu tốt lành )

Ấn của 8 câu Chú trên là Ngọc Hoàn Ấn : Tay trái co ngón giữa, ngón vô danh. Đem ngón cái đè lên móng 2 ngón tay ấy. Duỗi thẳng ngón trỏ và ngón út , đặt ngang trái tim

                                                                                    25/10/1999