Lưới Nghiệp

Tỳ Kheo Thích Hằng Đạt

 

http://www.cungduongphap.com/CDP/Di%20Dong%20Chu%20Tieu/Linh%20Tinh%20%28138%29.gif


Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du có viết: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách cứ trời gần trời xa”. Vâng, một khi hiểu rõ sự vận hành của nghiệp thì chúng ta có thể tự làm chủ cũng như chuyển nghiệp của mình, chứ không phó thác cuộc đời cho “Số Mạng”, rồi bỏ mặc để trôi theo dòng đời mà không chịu cố gắng vươn lên. 

Theo định nghĩa, chữ “Nghiệp” nghĩa là sự tác ý, khiến thúc đẩy một hành động hay lời nói nào đó, để đưa đến những kết quả lành hay xấu. Đức Phật dạy rất nhiều về nghiệp, như trong kinh Suttanipata có ghi: "Thế gian y vào nghiệp mà chuyển, hữu tình y vào nghiệp mà chuyển, hữu tình bị nghiệp trói buộc, cũng như bánh xe y vào cái trục mà quay."

Kinh Trường A-hàm 5 đức Phật dạy: "Hữu tình lấy nghiệp làm tự thể do sự tương tục của nghiệp, lấy nghiệp làm mẫu thai, lấy nghiệp làm quyến thuộc, lấy nghiệp làm sở vi; phàm sự phân biệt như thế đều do nghiệp phân phối."

Kinh Bản Sự 5-6 đức Phật dạy: "Hai pháp thường theo nhau, đó là nghiệp và thọ. Hễ có nghiệp thì có thọ, không nghiệp thì cũng không có thọ. Nếu nghiệp và thọ không tiêu mất thì hữu tình sẽ không chết, còn nếu nghiệp và thọ tận diệt thì hàm thức tất phải chết." 

Kinh Trung A-Hàm 32, đức Phật dạy: "Trong ba nghiệp thân, khẩu và, ý thì ý nghiệp là tối quan trọng."

Kinh Trung A-Hàm 3 rằng: "Tỷ-kheo, Ta quyết không bao giờ nói rằng quả báo của tác nghiệp cố ý bị tiêu diệt, không được lãnh chịu. Quả báo ấy hoặc đời này hay đời sau nhất định phải hứng chịu."

Kinh Dhammapada (Pháp cú): "Những kẻ tạo nghiệp ác, dù có lên không, xuống biển hay vào hang núi cũng không nơi nào có thể trốn thoát."

Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu các loại nghiệp dưới nhãn quan Phật giáo.

Về phương diện tạo tác:

Sanh nghiệp, tức là nghiệp dẫn khởi tâm thức và sanh ra thân bốn đại.  

Trì nghiệp, tức là nghiệp giữ và phát triển Sanh Nghiệp đến lúc chết. Trì nghiệp lành giúp con người khỏe mạnh, an lạc, hạnh phúc, còn trì nghiệp xấu khiến bị bịnh hoạn, đau khổ.

Chướng nghiệp, tức là nghiệp làm chướng ngại và gây chậm trễ cho sự hình thành của Sanh Nghiệp. Ví dụ, do người mẹ hút thuốc, uống rượu nên thai nhi có thể bị tật nguyền.

Đoạn nghiệp (có thể lành hay xấu), tức là nghiệp đoạn trừ, tiêu diệt năng lực của Sanh Nghiệp, như một mũi tên đang bay có thể bị một sức mạnh nào khác cản lại khiến cho mũi tên rơi xuống. Ví dụ, nhờ sanh nghiệp và trì nghiệp lành mà Hitler nắm quyền sanh sát của nước Đức một thời gian dài. Tuy nhiên, vì chướng nghiệp mà ông ta mất hết tất cả quyền hành, và vì đoạn nghiệp mà ông ta phải tự tử.

Về phương diện sức lực và sự hình thành quả báo theo thứ lớp:

Cực trọng nghiệp (có thể lành hay xấu), là nghiệp quyết định thọ sanh ngay sau khi chết. Nếu cực trọng nghiệp lành thì ngay sau khi mất, liền sanh trở lại làm người hay sanh lên những cõi trời. Năm cực trọng nghiệp xấu (hay vô gián nghiệp) là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu, và nhất định do nghiệp này đem đến kết quả trong đời sau bị đọa lạc địa ngục vô gián.

Dù có tu hành miên mật hay bố thí cúng dường nhiều, nếu phạm một cực trọng nghiệp xấu thì đời sau sẽ bị nghiệp này chi phối mạnh mẽ, như vua A Xà Thế vì giết cha nên không thể chứng Sơ Quả, và Đề Bà Đạt Đa bị mất thần thông và đọa vào đường ác vì nghiệp phá hòa hợp tăng và làm thân Phật chảy máu.

Cận tử nghiệp, là nghiệp hay tư tưởng phát khởi ngay lúc sắp mất chi phối mạnh mẽ đến đời sau. Một người hiền có thể chết đau đớn hay sanh vào đường ác nếu nhớ lại một việc ác; như hoàng hậu Mallika của vua xứ Kosala, tuy sống một đời lành thiện, nhưng chỉ vì nhớ lại một lời nói láo lúc sắp mất, nên phải sống 7 ngày đau khổ trong đường ác. Ngược lại, một người xấu có thể sanh lên những cõi lành nếu lúc sắp mất khởi tâm niệm lành, hay được các bậc thiện tri thức khai thị, chỉ dẫn theo chánh pháp.

Tập quán nghiệp, là nghiệp hay các hành động thường làm và tư tưởng thường nghĩ trở thành thói quen, cá tánh. Vua A Dục do huân tập tâm hạnh bố thí, nên vào lúc sắp mất, dù bị quần thần tước đoạt hết tất cả quyền uy, trong tay chỉ còn một trái am la, vẫn cúng dường cho chư tăng. Thiền Sư Vạn Hạnh nhờ huân tu quán chiếu lý vô thường nên trước khi nhập tịch, để lại bài thơ: “Thân như sấm chớp chiều tà, cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời, xá chi suy thịnh việc đời, thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành”.

Tích lũy nghiệp, là sự chất chứa những hạnh nghiệp làm mà quên liền, như chúng ta để dành tiền ngày này qua ngày nọ trong nhà băng.
  
Về phương diện thời gian:

Hiện báo nghiệp, tức là nghiệp đưa đến kết quả hiện tại, như chính quyền Taliban của xứ Afghanistan lúc trước do phá hủy hai tượng Phật lớn nhất thế giới vào năm 2003, nên bị mất quyền thế, và bây giờ phải trốn chui trốn nhủi trong rừng núi.

Vô hiệu nghiệp, tức là nghiệp không thọ lãnh đời này.

Hậu báo nghiệp, tức là nghiệp thọ lãnh cuối cùng vào lúc chứng quả thánh, như đức Phật bị nạn thương đâm do nghiệp giết tên cướp cứu 500 thương buôn trong một đời tiền kiếp, và ngài Mục Kiền Liên bị ngoại đạo giết chết do nghiệp giết cha mẹ trong một đời quá khứ.

Ngoài ra, do tạo tác những nghiệp lực khác nhau, nên có những loại quả báo bất đồng dưới đây:

Quả báo quyết định: Nếu ai đối với Phật, Pháp, Tăng và người giữ giới, khởi tâm tăng thượng bố thí. Do nghiệp thiện này, phát nguyện hồi hướng đến cõi Phật, thì sẽ được vãng sanh.

Quả báo bất định: Nếu không tu tập, không phát nguyện hồi hướng vãng sanh các cõi Phật, và tạo nghiệp không phải do tâm lành thì sẽ bị quả báo bất định.

Quả báo sanh ở những nơi không có Phật pháp: Đối với Phật pháp, chùa chiền, chư đại tăng trì giới, nếu không phát tâm gần gũi, bố thí, cúng dường, học đạo thì đương nhiên sẽ sanh vào những vùng không có chánh pháp, không có Tam Bảo.

Quả báo sanh nơi có Phật Pháp: Đối với Phật pháp, chùa chiền, chư đại tăng trì giới thanh tịnh, nếu khởi tâm tăng thượng, thành tâm bố thí cúng dường, gần gũi học đạo, rồi nhờ căn lành này mà phát nguyện cầu sanh nơi có Phật pháp, thì sẽ được sanh vào nơi có Tam Bảo, nghe chánh pháp, thọ quả báo lành thiện.

Quả báo ở lâu trong địa ngục: Nếu chúng sanh nào đã tạo nghiệp địa ngục rồi nhưng chẳng biết hổ thẹn, chẳng biết chán chường sợ sệt, chẳng biết sám hối, còn khởi tâm hoan hỷ và tạo nghiệp ác sâu nặng thì ở lâu trong địa ngục.  

Quả báo ở trong địa ngục nửa chừng thì yểu, không hết tuổi thọ: Sau khi tạo nghiệp địa ngục mà biết sợ hãi, sám hối, xấu hổ.

Quả báo đọa vào địa ngục, mới vào liền ra: Sao khi tạo nghiệp địa ngục liền thành tâm sám hối, sợ sệt, chán làm điều ác, lại không tạo nữa, như vua A Xà Thế do tội giết cha mà đọa vào địa ngục, nhưng liền được thoát ra nhờ tâm thành sám hối.

Nghiệp làm mà không nhóm tập: Sau khi dùng ba nghiệp thân khẩu ý tạo các ác nghiệp liền khởi tâm lo sợ, xa lìa, sám hối, than trách, và không còn tạo các điều ác nữa.

Nhóm tập mà không làm: Tuy không tự làm điều ác hay lành lại khuyến khích người khác làm.

Nghiệp cũng vừa tạo tác cũng vừa nhóm tập: Thỉnh thoảng cứ tạo nghiệp mà không hối hận, lại khuyến khích người khác tạo nghiệp xấu.

Nghiệp không tạo tác cũng không nhóm tập (nghiệp vô ký): Không làm và không dạy người làm.

Nghiệp ban đầu thì vui kết thúc thì khổ: Nhờ nghe người khác khuyên bố thí nhưng tâm không kiên cố nên về sau hối hận. Vì vậy, tuy được phước sanh ở cõi người và trước thì giàu có, nhưng sau lại nghèo khổ.

Nghiệp ban đầu thì khổ kết thúc thì vui: Nhờ nghe người khác khuyến khích nên cố gắng bố thí, nhưng lại hoan hỷ với tâm không tiếc của, nên được sanh ở cõi người tuy mới đầu nghèo khổ, mà sau lại giàu sang.

Nghiệp ban đầu thì khổ kết thúc thì khổ: Do không được khuyến khích hay chỉ dẫn cách bố thí, nên không thể hành hạnh bố thí đôi chút. Vì vậy, dù sanh ở cõi người, nhưng suốt đời chịu nghèo khổ.

Nghiệp ban đầu vui mà kết thúc cũng vui: Nhờ gần gũi các vị thiện tri thức hướng dẫn khuyến khích bố thí, khiến chuyên tâm và hoan hỷ bố thí. Vì vậy, khi sanh ở cõi người, suốt đời được hưởng phước giàu sang sung sướng.

Nghiệp nghèo mà ưa bố thí: Tuy có bố thí nhưng không bố thí đúng ruộng phước, nên được quả báo ít oi. Khi sanh trong cõi người tuy bị nghèo khổ, nhưng vẫn còn thói quen bố thí.

Nghiệp giàu có mà xan tham: Nhờ được thiện tri thức khuyến hóa mới bố thí đúng ruộng phước, nên được giàu sang. Tuy nhiên, do không có thói quen bố thí nên tuy giàu sang mà keo kiết.

Nghiệp giàu có mà hay bố thí: Nhờ thiện tri thức chỉ dạy cách bố thí đúng ruộng phước, nên hoan hỷ phát tâm bố thí. Sang đời sau được hưởng phước báo và tiếp tục hành hạnh bố thí.

Nghiệp nghèo mà xan tham: Vì không gần gũi chư vị thiện tri thức nên không biết bố thí. Do đó, sang đời sau bị nghèo hèn mà lại bỏn xẻn.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh được thân an lạc nhưng tâm không an lạc: Nhờ đời trước bố thí nên nay được phước báo, nhưng vì không biết tu tập chuyển hóa tâm niệm nên tâm không an lạc.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh tâm được an lạc nhưng thân không an lạc: Như các vị A La Hán ít phước.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh cả thân lẫn tâm an lạc đều an lạc: Như các vị A La Hán có phước.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh cả thân lẫn tâm an lạc đều không an lạc: Như người không có phước báo và trí huệ.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh mạng đã tận mà nghiệp không tận: Như chúng sanh từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A Tu La, trời, người, tuy chết rồi mà cũng sanh trở lại những cõi đó.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh nghiệp đã tận mà mạng không tận: Như có chúng sanh hết vui thì thọ khổ, hết khổ thì được vui .
Nghiệp hay khiến cho chúng sanh cả nghiệp lẫn mạng đều tận: Chúng sanh từ địa ngục ra lại sanh vào các loài khác như súc sanh hay là ngạ quỷ, cho đến người, trời, A tu la v.v...

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh cả nghiệp lẫn mạng đều không tận: Như các vị Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán đã tận trừ các phiền não.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh tuy sanh ở ác đạo nhưng hình dung lại tốt đẹp, mắt mày đoan nghiêm, da thịt trong sáng ai cũng thích nhìn: Chúng sanh do phạm giới dâm dục, nên tuy sanh vào loài súc sanh mà hình dung tốt đẹp, mắt mày đoan nghiêm, da thịt trong sáng ai cũng muốn nhìn.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh sanh ở ác đạo, hình dung xấu xí, da thịt thô rít, chẳng ai muốn nhìn: Chúng sanh do sân hận phạm giới, nên sanh nơi đường ác, có hình sắc xấu xí, da thịt thô rít.

Nghiệp hay khiến cho chúng sanh sanh nơi ác đạo, thân miệng hôi thúi, các căn khuyết tật: Chúng sanh do si mê phiền não phá giới, nên sanh nơi đường ác, thân miệng hôi thúi, các căn khuyết tật.

Biệt nghiệp, hay Bất cộng nghiệp, hay Bất-cộng-báo nghiệp: Những loại nghiệp và quả báo được trình bày ở trên nói chung thuộc về nghiệp riêng (biệt nghiệp) của mỗi cá nhân. Do mỗi con người có tâm thái, hành động, nghề nghiệp, thói quen khác nhau, nên tuy sống chung trong một gia đình, cộng đồng, xã hội, nhưng có đời sống khác nhau.

Cộng nghiệp: Nhiều người có cùng tư tưởng, thói quen, hay cách thức tu tập tương đồng, nên tìm đến nhau, như trong dân gian có câu “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, hay câu “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. 

Ví dụ, những bác sĩ, y tá, dược sĩ thường thích qua lại với nhau vì cùng làm việc trong ngành y khoa. Những kẻ cờ bạc rượu chè tìm nhau để đánh chén hay sát phạt với nhau. Ngay trong đạo, những Phật tử thích tu thiền thì thường gần gũi các vị thiền sư hay các bạn đạo tu thiền; những Phật tử thích tu Mật tông huyền bí thì thường gần gũi các vị thầy Mật tông Tây Tạng; hoặc những Phật tử thích tu Tịnh Độ thì gần gũi các vị tăng Tịnh Độ và các bạn đạo chuyên hành trì pháp môn niệm Phật. 

Xưa kia, một hôm Phật ở trong tịnh thất trên núi Linh Thứu; gần đó có nhiều đoàn Tỳ-kheo đi thiền hành. Đoàn thứ nhứt gồm một số Tỳ-kheo đi theo Tôn giả Xá-lợi-phất. Đoàn thứ hai người dẫn đầu là Tôn giả Mục-kiền-liên. Đoàn thứ ba các Tỳ-kheo đi sau Tôn giả Ma-ha-ca-diếp. Đoàn thứ tư gồm những Tỳ-kheo đi theo sau Tôn giả A-na-luật. Đoàn thứ năm là một số Tỳ-kheo đi theo Tôn giả Phú-lâu-na. Đoàn thứ sáu là những Tỳ-kheo đi theo sự hướng dẫn của Tôn giả Ưu-ba-ly. Đoàn thứ bảy là những Tỳ-kheo đi theo sau Đề-bà-đạt-đa. Khi đó Phật nói với các Tỳ-kheo đang ở bên cạnh: 

-Những Tỳ-kheo cùng đi theo Xá-lợi-phất là những Tỳ-kheo có trí tuệ lớn. Những Tỳ-kheo cùng đi với Mục-kiền-liên là những Tỳ-kheo có đại thần thông. Những Tỳ-kheo đi theo Ma-ha-ca-diếp là những Tỳ-kheo ưa tu hạnh đầu đà... Còn những Tỳ-kheo mà đi theo Đề-bà-đạt-đa là những Tỳ-kheo có tâm ác dục.

Lại nữa, con người liên hệ với nhau trên thế giới như một mạng lưới chặt chẽ, từ một cá nhân đến một đơn vị gia đình, cộng đồng, quốc gia, và toàn cầu. Nghĩa là trong đó con người cùng chung sống, cùng hưởng hay cùng chịu quả báo với nhau. Ví dụ, một bác sĩ phục vụ bịnh nhân dù ở một vùng xa xôi hẻo nhưng vẫn có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến đời sống của các bịnh nhân. Sau khi lành bịnh, các bịnh nhân đó trở lại cuộc sống bình thường với những nghề nghiệp thích ứng.

Những bịnh nhân đó có thể là kỹ sư, sinh viên, y tá, v.v… Họ lại có những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nhiều người trong các hãng xưởng, công ty, nhà thương, quân đội, v.v… Và những cơ sở đó lại ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế, văn hóa, chính trị của một quốc gia và thế giới. 

Giả sử vị bác sĩ đó không có đủ khả năng chữa trị bịnh nhân, khiến cho căn bịnh của các bịnh nhân lại tăng thêm, đương nhiên các bịnh nhân đó không thể có đủ sức khỏe để trở lại làm việc bình thường như xưa, khiến ảnh hưởng đến công việc của các hãng xưởng, công ty, cơ sở đó, tức là gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, văn hóa, chính trị v.v…

Nói chung, tuy mỗi người tự tạo nghiệp riêng rồi thọ lãnh quả báo riêng, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến mọi người xung quanh và môi trường thiên nhiên trên thế giới. Nghĩa là mỗi lời nói, hành động cử chí của chúng ta đều có những tác động tích cực, tiêu cực, hay trung lập với mọi người chung quanh, tùy theo mức độ về khả năng, kiến thức, tâm tình, nhất là hiện nay con người trên thế giới ngày càng gần gũi với nhau nhờ những sự nối kết của Internet, hệ thống báo chí, truyền thanh, truyền hình. 

Điển hình, nhờ ngày nay ai ai cũng có thể theo dõi tin tức của tất cả quốc gia ở năm châu lục qua các hệ thống truyền thông đại chúng, nên bất cứ sự thay đổi gì về kinh tế, văn hóa, chính trị của một quốc gia đều liên hệ trực tiếp và gián tiếp đến dân chúng trên toàn thế giới. Lần về những thế kỷ trước, sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở Châu Âu, hàng hóa được sản xuất lạm dư, nên các chính quyền của châu lục đó đi tìm kiếm thị trường tiêu thụ bằng cách dùng vũ lực chiếm đóng các thuộc địa ở châu Á, châu Phi, khiến biết bao nhiêu người bị đau khổ. 

Rồi cũng do tranh giành thị trường và quyền lực mà xảy ra thế chiến thứ nhất và thứ hai. Sau chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản, con người hình như chưa học được những bài học về mối tương giao mật thiết với nhau, cuộc chiến “Chống Khủng Bố” được bắt đầu kể từ khi sự kiện 9/11 xảy ra ở New York, qua chiến tranh ở Afghanistan, Iraq, rồi đến sự kiện nổ bom ở London vào ngày 7 tháng 7 vừa qua. Những sự tranh chấp đó ít nhiều tác động đến đời sống của mỗi con người trên thế giới.

Bàn về người Việt trong và ngoài nước, bất cứ sự thay đổi nào ở trong hay ngoài nước đều ảnh hưởng đến mỗi chúng ta. Nếu chính quyền Việt Nam ra những sắc lịnh gì trong nước, thì không những dân chúng trong nước chịu ảnh hưởng, mà người Việt nước ngoài cũng bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp.

Ví dụ, nhà nước Việt Nam nếu có những sắc lịnh rộng mở hay bảo thủ liên hệ đến sự thăm viếng thân nhân hay tạm trú thì người Việt ở nước ngoài có thể muốn về thăm thân nhân, bạn bè ở Việt Nam nhiều lần, hay ít lần, ở lâu hay ở ngắn hạn tùy theo những luật pháp đó. Ngoài ra, tiền của người Việt nước ngoài gởi về cho thân nhân trong nước mỗi năm khoảng vài triệu và cứ tăng dần, khiến ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế của Việt Nam rất nhiều.

Cũng vậy, đối cộng đồng người Việt chúng ta ở nước ngoài, những gì xảy ra cho mỗi người Việt ở một cộng đồng đều ảnh hưởng đến bà con, bạn bè của người đó ở những cộng đồng khác.

Cũng thế, cộng đồng người Việt chúng ta ở vùng Kentuckiana mấy tháng vừa qua có những vụ trộm cắp đồ đạc liên tục, khiến đa số chúng ta rất lo lắng. Theo chúng tôi được biết, có một số con em vị thành niên của chúng ta liên hệ đến những vụ trộm cắp đó.

Đây là mối nguy của cộng đồng chúng ta trong hiện tại và tương lai vì những vụ trộm cắp đó gây tai tiếng cho mọi người Việt chúng ta trong vùng chứ không phải chỉ có các bậc cha mẹ của các em đó. Thế nên, trách nhiệm dạy dỗ các em không những của các bậc cha mẹ, mà còn cả các vị lãnh đạo cộng đồng, tôn giáo. 

Vì vậy, đối với việc đưa con em chúng ta đến các chùa để được quý thầy chỉ dạy hay tham gia vui chơi lành mạnh trong Gia Đình Phật Tử là rất cần yếu. Hiện tại, nếu mỗi em là một Phật tử tốt thì các em sẽ làm những tấm gương tốt trong gia đình, trường học và ngoài xã hội. Tương lai, các em có thể sẽ là những yếu nhân lãnh đạo cộng đồng, chính quyền, v.v… và sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến với quần chúng mạnh mẽ.

Do đó, các bậc cha mẹ nếu là Phật tử thuần thành thì phải cố gắng tu tập cũng như hướng dẫn con cháu hiểu đạo. Nghĩa là, mỗi khi ngồi thiền, niệm Phật, hay trì chú, chúng ta biết rằng mình đang tịnh hóa thân tâm cũng như đang dạy dỗ con cháu bằng thân giáo, để chúng nhìn và noi theo gương đó. 

Như đức Phật đã dạy trong kinh Kim Cang rằng Ngài đã độ hết tất cả chúng sanh vào Vô Dư Niết Bàn, nghĩa là Ngài đã chuyển hóa và dứt hết tất cả tập khí phiền não, nên mới chứng quả Chánh Đẳng Chánh Giác mà thuyết pháp độ sanh. Tức là nhờ tịnh hóa nghiệp riêng khiến cho “Tâm Bình” hoàn toàn nên đức Phật mới chỉ dạy chúng sanh chuyển hóa nghiệp chung, “Thế Giới Bình”.

Thật vậy, khi có tâm niệm lành, làm việc thiện, nói lời hiền hòa thì chúng ta sẽ chiêu cảm những người có thân, khẩu, ý lành thiện như thế. Ví dụ, nếu chúng ta giữ được ba nghiệp lành thiện như thế thì tự nhiên vợ chồng, anh em thuận hòa, con cháu hiếu thảo, hiền hòa. Khi gia đình được đầm ấm, hạnh phúc thì cộng đồng và xã hội cũng được thanh bình an lạc.  

Ngoài ra, trong cộng nghiệp có biệt nghiệp: Như tuy bị bom nổ, nhưng có hơn 50 người bị chết và hơn 700 người bị thương trong vụ khủng bố ở London vào ngày 07 tháng 7, 2005 vừa qua.

Và cuối cùng, trong biệt nghiệp có cộng nghiệp: Như trên nhiều chuyến tàu vượt biên, do có cộng nghiệp lành nên chúng ta đến nước thứ hai bình yên vô sự. Ngược lại, cũng có những chuyến tàu bị nạn hải tặc hay sóng to gió lớn khiến một số người hay cả tàu bị chết.

Kết luận, hiểu rõ những loại nghiệp riêng và quả báo lành xấu như đã trình bày bên trên, chúng ta có quyền lựa chọn cách thức gieo nghiệp cũng như chuyển nghiệp để được quả báo an lạc, hạnh phúc cho cá nhân. 

Ngoài ra, chúng ta cũng hiểu rõ rằng sự an lạc, hạnh phúc cá nhân cũng chịu sự chi phối từ lưới nghiệp chung của mọi người xung quanh vì con người trên thế giới tùy thuộc lẫn nhau như từng sợi dây nghiệp đan nhau trong một mạng lưới nghiệp dầy đặc mà không thể tách rời ra được.

Vã lại, trong kinh Phạm Võng, đức Phật dạy rằng chúng ta phải quán chiếu tất cả người nam như cha hay anh em, và tất cả người nữ như mẹ hay chị em, vì ngày nào chúng ta còn lăn lộn trong vòng sanh tử luân hồi thì ngày đó chúng ta vẫn còn có bà con quyến thuộc. 

Hơn nữa, trong quyển luận Nhập Bồ Tát Hạnh, ngài Tịch Thiên lại dạy rằng chúng ta phải biết ơn chúng sanh, vì nếu không có người nông dân làm ra lúa mạ, nếu không có các bác sĩ chăm sóc sức khỏe, nếu không có các kỹ sư chế ra máy móc xe cộ thì dù có nhiều tiền bao nhiêu đi nữa, chúng ta cũng không thể mua được những thứ đó. 

Do đó, chúng ta phải cố gắng hỗ trợ, giúp đỡ nhau qua các tâm hạnh từ bi hỷ xã để cùng nhau xây dựng một cõi tịnh độ an lạc và hạnh phúc.

Phụ Chú: Dưới đây là các bản so sánh về những quả báo lành xấu theo kinh Nghiệp Báo Sai Biệt.

  

http://www.commentnation.com/comments/orange_glitter_flower.gif

Quả báo chết yểu do:

Quả báo trường thọ do:

1.  Tự mình sát sanh.
2.  Bảo người sát sanh.
3.  Khen ngợi sự giết.
4.  Thấy giết vui sướng.
5.  Ðối với người oán ghét thì muốn tiêu diệt.
6.  Thấy người oán của mình bị tiêu diệt
rồi trong lòng sung sướng.
7.  Làm hư thai tạng của người khác.
8.  Dạy người hủy hoại (thai tạng).
9.  Xây dựng miếu thờ trời để giết hại
chúng sanh.
10.  Dạy người đánh nhau để hai bên bị tàn
hại.

1.   Tự mình không sát sanh.
2.   Khuyên người khác đừng sát sanh.
3.   Tán thán sự không sát sanh.
4.   Thấy người không sát sanh trong lòng vui mừng.
5.   Thấy người bị giết hại, dùng phương tiện cứu thoát.
6.   Thấy kẻ bị cái chết khủng bố, an ủi họ.
7.   Thấy kẻ bị khủng bố, bố thí sự vô úy.
8.   Thấy người bị các khổ loạn, khởi tâm thương xót.
9.   Thấy người bị các điều cấp nạn, khởi tâm đại bi.
10.     Dùng các thức ăn uống bố thí chúng sanh.

http://www.umnet.com/pic/diy/screensaver/4/flower-blue-48308.gif

Quả báo nhiều bệnh do:

Quả báo ít bệnh do:

1.   Thích đánh đập tất cả chúng sanh.
2.   Khuyên người đánh đập.
3.   Khen ngợi sự đánh đập.
4.   Thấy đánh đập thì hoan hỷ.
5.   Làm não loạn cha mẹ khiến cha mẹ
buồn rầu.
6.   Não loạn Thánh hiền.
7.   Thấy người oán của mình bị bệnh khổ,
trong lòng vô cùng vui sướng.
8.   Thấy người oán của mình lành bệnh,
trong lòng không vui.
9.   Ðối với bệnh của kẻ oán thù, cho
không đúng thuốc trị bệnh.
10.     Ðồ ăn cách đêm khó tiêu lại ăn vào.

1.  Không đánh đập tất cả chúng sanh.
2.  Không khuyên người khác đánh đập.
3.  Tán thán sự không đánh đập.
4.  Thấy người không đánh đập, tâm sanh hoan hỷ.
5.  Cúng dường cha mẹ và các người bệnh.
6.  Thấy bậc Hiền thánh bị bệnh hoạn thì giúp đỡ trông coi, cúng dường.
7.  Thấy kẻ oán của mình lành bệnh sanh tâm hoan hỷ.
8.   Thấy người bệnh khổ bố thí thuốc hay, cũng khuyên người khác bố thí.
9.  Ðối với chúng sanh bệnh khổ, sanh tâm thương xót.
10.  Ðối với đồ ăn thức uống, tự mình có thể tiết kiệm.

http://www.wilsoninfo.com/flow1.gif

Quả báo thô xấu do:

Quả báo đoan chánh do:

1.  Ưa phẩn nộ.
2.  Ưa ôm lòng ghét giận.
3.  Dối láo mê hoặc người khác.
4.  Não loạn chúng sanh.
5.  Ðối với chỗ ở của cha mẹ không có lòng
kính yêu.
6.  Ðối với chỗ các Hiền thánh không sanh
tâm cung kính.
7.  Xâm đoạt ruộng vườn sinh sống của các
Hiền thánh.
8.  Làm mất ánh sáng đèn đuốc nơi tháp
miếu của đức Phật.
9.  Thấy người thô xấu thì hủy báng khinh chê.
10.  Tập các hạnh ác.

1.  Không sân.
2.  Bố thí y.
3.  Thương yêu cha mẹ.
4.  Tôn trọng Hiền thánh.
5.  Tu bổ sơn phết tháp Phật.
6.  Lau quét từ đường.
7.  Lau quét già lam.
8.  Lau quét tháp Phật.
9.  Thấy người thô xấu không có tâm khinh khi, nhưng có lòng cung kính.
10.  Thấy người đoan chánh biết rõ do nhân đời trước (cảm nên).

 http://rs338.pbsrc.com/albums/n421/kathy08_01_2008/Background/Bastelpics/Divider/878031oq6iuoirb6.gif~c200

Quả báo ít oai nghi do:

Quả báo được oai thế lớn do:

1.  Ðối với chúng sanh khởi tâm ganh ghét.
2.  Thấy người khác được tài lợi, sanh tâm
buồn rầu bực tức.
3.  Thấy người khác bị mất lợi, trong lòng
vui mừng.
4.  Thấy người khác được danh tiếng sanh
tâm ganh ghét.
5.  Thấy người bị mất danh dự, trong lòng
hân hoan.
6.  Thối tâm Bồ đề, hưng hoại hình tượng
của Phật.
7.  Ðối với cha mẹ mình và chỗ ở của các
Hiền thánh không có tâm thờ phụng.
8.  Khuyên người tu tập hành động ít oai nghi.
9.  Làm chướng ngại kẻ khác tu tập hành
động có oai nghi lớn.
10.  Thấy người có ít oai đức sanh lòng
khinh dễ.

1.  Ðối với chúng sanh không có tâm đố kỵ.
2.  Thấy người khác được tài lợi sanh tâm hoan hỷ.
3.  Thấy người khác mất lợi sanh tâm thương xót.
4.  Thấy người khác được danh dự trong lòng hân hoan.
5.  Thấy người khác bị mất danh dự, giúp cho bớt buồn lo.
6.  Phát tâm Bồ đề, tạo hình tượng Phật, cúng thí bảo cái.
7.  Ðối với cha mẹ mình và chỗ các Hiền thánh cung kính nghinh rước.
8.  Khuyên người bỏ nghiệp ít có oai đức.
9.  Khuyên người tu hành nghiệp có oai đức lớn.
10.  Thấy người không có oai đức không đem lòng khinh chê.

 

 http://www.desiglitters.com/wp-content/uploads/2009/02/roses-desi-glitters-42.gif

Quả báo sanh vào dòng họ thấp kém do:

Quả báo sanh vào dòng họ cao thượng do:

1.  Không biết kính Cha.
2.  Không biết kính Mẹ.
3.  Không biết kính Sa môn.
4.  Không biết kính Bà la môn.
5.  Ðối với các bậc Tôn trưởng không biết kính ngưỡng.
6.  Ðối với các Sư trưởng không cung nghinh cúng dường.
7.  Thấy các bậc Tôn trưởng không cung nghinh mời ngồi.
8.  Ðối với chỗ ở của Cha Mẹ không tuân theo lời giáo huấn.
9.  Ðối với bậc Hiền thánh không thọ giáo.
10.  Khinh chê kẻ thấp kém.

1.  Khéo biết kính Cha.
2.  Khéo biết kính Mẹ.
3.  Khéo biết kính Sa môn.
4.  Khéo biết kính Bà la môn.
5.  Kính hộ bậc Tôn trưởng.
6.  Thờ kính bậc sư trưởng.
7.  Thấy các bậc Sư trưởng cung nghinh mời ngồi.
8.  Ðối với Cha Mẹ thì kính thọ lời giáo huấn.
9.  Ðối với bậc Hiền thánh thì tôn kính và thọ giáo.
10.  Không khinh kẻ thấp hèn.

 http://www.glitteruniverse.com/images/flowers/flowers-7.gif

Quả báo có ít của cải sinh sống do:

Quả báo đời sống có nhiều của cải do:

1.  Tự mình làm việc trộm cắp.
2.  Khuyên người khác trộm cắp.
3.  Khen ngợi sự trộm cắp.
4.  Thấy trộm cắp là hoan hỷ.
5.  Ðối với chỗ Cha Mẹ không lo làm ăn.
6.  Ðối với chỗ Hiền thánh thì chiếm đoạt tài vật.
7.  Thấy người khác được tài vật thì tâm không hoan hỷ.
8.  Ngăn cản người khác được lợi, làm cho họ thường gặp tai nạn.
9.  Thấy người khác bố thí, không có tâm tùy hủy.
10.  Thấy người đời đói kém, tâm không thương xót mà lại vui sướng.

1.  Tự mình xa lìa trộm cắp.
2.  Không khuyên người khác trộm cắp.
3.  Không tán thán sự trộm cắp.
4.  Thấy người không trộm cắp sanh tâm hoan hỷ.
5.  Ðối với chỗ ở của Cha Mẹ cung phụng sự làm ăn.
6.  Ðối với các vị Hiền thánh thì cung cấp những vật cần dùng.
7.  Thấy người khác được lợi, sanh tâm hoan hỷ.
8.  Thấy người cầu lợi thì phương tiện hỗ trợ.
9.  Thấy người bố thí thuốc (trị bệnh) sanh tâm hoan hỷ.
10.  Thấy người đời đói khổ, sanh tâm thương xót.

 http://universdecopil.ro/images/stories//animate/martisor_virtual_animat/gif-martisor-animat-pentru-1-martie.gif

Quả báo tà trí do:

Quả báo chánh trí do:

1.  Không hay học hỏi với Sa môn, Bà la môn có trí tuệ.
2.  Rao truyền pháp ác.
3.  Không thể tu tập thọ trì chánh pháp.
4.  Tán thán pháp không phải định, cho là pháp định.
5.  Tiếc pháp không chịu nói.
6.  Thân cận kẻ tà trí.
7.  Xa lìa chánh trí.
8.  Tán thán tà kiến.
9.  Xả bỏ chánh kiến.
10.  Thấy người ngu si, hung ác thì khinh khi chê bai.

1.  Khéo có thể hỏi han những vị Sa môn, Bà la môn có trí tuệ.
2.  Rao truyền pháp lành.
3.  Nghe và thọ trì chánh pháp.
4.  Thấy người nói pháp định khen rằng: “Lành thay!”.
5.  Ưa nói chánh pháp.
6.  Thân cận người có chánh trí.
7.  Nhiếp hộ chánh pháp.
8/ Siêng tu hạnh nghe nhiều.
9.  Xa lìa tà kiến.
10.  Thấy người ngu si, hung ác không có khinh chê.

 http://lh5.ggpht.com/_JX4SILykZEo/TFLmghlEBhI/AAAAAAAACQI/bFEGFEd-Q3M/flores.gif

Quả báo địa ngục do:

Quả báo súc sanh do:

1.  Làm nghiệp ác nặng.
2.  Miệng nói lời ác nghiệp nặng.
3.  Ý nghĩ nghiệp ác nặng.
4.  Khởi sanh đoạn kiến.
5.  Khởi sanh thường kiến.
6.  Khởi sanh vô nhơn kiến.
7.  Khởi sanh vô tác kiến.
8/ Khởi sanh vô kiến kiến.
9.  Khởi sanh biên kiến.
10.  Không biết báo ân.

1.  Thân làm ác nghiệp bậc trung.
2.  Miệng nói ác nghiệp bậc trung.
3.  Ý nghĩ ác nghiệp bậc trung.
4.  Từ phiền não tham khởi ra các ác nghiệp.
5.  Từ phiền não sân khởi ra các ác nghiệp.
6.  Từ phiền não si khởi ra các ác nghiệp.
7.  Chửi mắng chúng sanh.
8.  Não hại chúng sanh.
9.  Bố thí vật bất tịnh.
10.  Làm việc tà dâm.


http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/2%20mau%20vang/mau%20vang%20%2835%29.gif

Quả báo ngạ quỷ do:

Quả báo A Tu La do:

1.  Thân làm nghiệp ác nhẹ.
2.  Miệng nói nghiệp ác nhẹ.
3.  Ý nghĩ nghiệp ác nhẹ.
4.  Sanh tâm tham nhiều.
5.  Sanh tâm tham ác.
6.  Tật đố.
7.  Tà kiến.
8.  Ái trước của cải cuộc sống rồi bị
mạng chung.
9.  Do đói mà chết.
10.  Bị khô khát bức bách mà chết.

1.  Thân làm nghiệp ác chút ít.
2.  Miệng nói nghiệp ác chút ít.
3.  Ý nghĩ nghiệp ác chút ít.
4.  Kiêu mạn.
5.  Ngã mạn.
6.  Tăng thượng mạn.
7.  Ðại mạn.
8.  Tà mạn.
9.  Mạn mạn.
10.  Ðem các căn lành hướng về Tu La đạo.

 http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/4%20mau%20hong/mau%20hong%20%281%29.gif

Quả báo sanh ở cõi trời do:

1.  Không sát sanh.
2.  Không trộm cắp.
3.  Không tà dâm.
4.  Không nói láo.
5.  Không nói thêu dệt.
6.  Không nói hai lưỡi.
7.  Không nói lời ác.
8.  Không tham.
9.  Không sân.
10.  Không tà kiến.

 

Ðối với mười nghiệp thiện trên, khiếm khuyến không hoàn toàn, nên được quả báo cõi người.

Nếu có chúng sanh tu mười thiện nghiệp mà không chống trái nên biết liền đạt được mười quả báo thù thắng ở bên ngoài.

http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/5%20mau%20tim/mau%20tim%20%2813%29.gif  

Hoặc có chúng sanh đối với mười nghiệp bất thiện phần nhiều tu tập, cảm các ngoại vật đều không được đầy đủ:

1.    Do nghiệp sát cho nên khiến cho các quả báo bên ngoài như đại địa muối mặn, cỏ thuốc không có.
2.    Do nghiệp trộm cắp nên cảm ra bên ngoài như sương, mưa đá, trùng sâu... khiến cho đời sống bị đói khát.
3.    Do nghiệp tà dâm cho nên cảm ra gió mưa dữ dội, và các trần ai.
4.    Do nghiệp nói dối cho nên cảm sanh ngoại vật đều bị hôi thúi.
5.    Do nghiệp nói hai lưỡi, cho nên cảm ra đại địa bên ngoài cao thấp không bằng, bờ ao hang hóc gồ ghề, gai gốc.
6.    Do nghiệp ác khẩu mà cảm sanh quả báo bên ngoài như ngói, đá, cát, sỏi, vật xấu thô rít không thể gần gũi.
7.    Do nghiệp nói thêu dệt nên cảm sanh quả báo bên ngoài, khiến thành cỏ cây rừng rậm, cành nhánh chông gai.
8.    Do nghiệp tham nên cảm sanh quả báo bên ngoài khiến cho mầm lúa, hạt giống vi tế.
9.    Do nghiệp sân hận cảm sanh quả báo bên ngoài, khiến cho cây cối có trái đắng.
10.     Do nghiệp tà kiến cho nên cảm sanh quả báo bên ngoài lúa mạ, hạt thu gặt ít ỏi.

Lại nữa, có những loại công đức và phước báo do tu tập và cúng dường như sau:

http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/2%20mau%20vang/mau%20vang%20%289%29.gif 

Lạy tháp miếu của Phật, được mười món công đức:

Cúng thí tràng phan được mười món công đức:

1.  Ðược sắc đẹp, tiếng hay.
2.  Có nói ra điều gì ai cũng tin phục.
3.  Không sợ sệt trước mọi người.
4.  Trời người đều ái hộ.
5.  Ðầy đủ oai thế.
6.  Có oai thế chúng sanh đều đến thân cận nương nhờ.
7.  Thường được thân cận chư Phật, Bồ tát.
8.  Có đầy đủ đại phước đức.
9.  Mạng chung được sanh lên trời.
10.  Mau chứng Bồ đề.

1.  Ở đời giống như cái tràng phan, từ quốc vương đại thần, thân hữu tri thức cung kính cúng dường.
2.  Giàu có tự tại, đầy đủ tài sản lớn.
3.  Tiếng tốt truyền khắp bao trùm các phương.
4.  Tướng mạo đoan nghiêm, thọ mạng lâu dài.
5.  Thường ở chỗ mình, thi hành kiên cố.
6.  Có danh xưng lớn.
7.  Có oai đức lớn.
8.  Sanh nhà thượng tộc.
9.  Thân hoại mạng chung được sanh lên trời.
10.  Mau chứng Bồ đề.

 http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/1%20mau%20do/mau%20do%20%2834%29.gif

Cúng thí chuông linh được mười công đức:

Cúng thí y phục được mười món công đức:

1.  Ðược tiếng Phạm âm.
2.  Ðược tiếng tăm lớn.
3.  Tự biết kiếp trước.
4.  Nói ra điều gì ai cũng kính thọ.
5.  Thường có bảo cái để tự trang nghiêm.
6.  Có ngọc anh lạc đẹp làm đồ trang sức.
7.  Diện mạo đoan nghiêm, ai nhìn thấy cũng hoan hỷ.
8.  Có đủ đại phước báo.
9.  Mạng chung được sanh lên trời.
10.  Mau chứng Niết bàn.

1.  Mặt, mắt đoan nghiêm.
2.  Da thịt tề nhuyễn.
3.  Không dính bụi bặm.
4.  Lúc sanh ra có đầy đủ y phục tốt đẹp.
5.  Có ngọa cụ tốt đẹp, bảo cái che thân.
6.  Có đầy đủ y phục hổ thẹn.
7/ Ai thấy cũng kính yêu.
8.  Có tài bảo lớn.
9.  Mạng chung sanh lên trời.
10.  Mau chứng Niết bàn.

 http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/1%20mau%20do/mau%20do%20%2854%29.gif

Cúng thí đồ ẩm thực được mười món công đức:

Cúng thí giày dép được mười món công đức:

1.  Ðược thọ mạng.
2.  Ðược sắc đẹp.
3.  Ðược sức lực.
4.  Ðược vô ngại biện tài an ổn.
5.  Ðược vô sở úy.
6.  Không có các sự biếng nhác, mọi người
kính ngưỡng.
7.  Mọi người đều yêu thích.
8.  Có đủ phước báo lớn.
9.  Mạng chung sanh lên trời.
10.  Mau chứng Niết bàn.

1.  Có đầy đủ xe đẹp.
2.  Chân đi bình an.
3.  Bàn chân mềm mại.
4.  Ði xa khang kiện nhẹ nhàng.
5.  Thân không mệt mỏi.
6.  Dù đi đến đâu cũng không bị chông gai, ngói sạn làm chân bị tổn thương.
7.  Ðược thần thông lực.
8.  Ðầy đủ các sứ giả giúp đỡ.
9.  Mạng chung được sanh lên trời.
10.  Mau chứng Niết bàn.

 http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/2%20mau%20vang/mau%20vang%20%2812%29.gif

Cúng thí hương hoa được mười món công đức:

Cúng thí đèn sáng được mười công đức:

1/ Xử thế như bông hoa.
2/ Thân thể không hôi thúi.
3/ Hương phước hương giữ giới bay khắp
các phương.
4/ Tùy sanh ở đâu, tỷ căn không hư hoại.
5/ Vượt trên thế gian được mọi người
quy ngưỡng.
6/ Thân thường sạch thơm.
7/ Yêu thích chánh pháp, thọ trì đọc tụng.
8/ Ðủ phước báo lớn.
9/ Mạng chung sanh lên trời.
10/ Mau chứng Niết bàn.

1.  Chiếu sáng thế gian như đèn.
2.  Tùy sanh ở đâu mắt thịt không bị tổn hoại.
3.  Ðược thiên nhãn.
4.  Ðối với các pháp thiện ác, có trí tuệ biết rõ.
5.  Trừ diệt sự si ám lớn.
6.  Ðược trí tuệ sáng suốt.
7.  Lưu chuyển ở thế gian, thương không bị ở nơi tối tăm.
8.  Có đủ phước báo lớn.
9. Mạng chung được sanh lên trời.
10.  Mau chứng Niết bàn.

 

 http://www.cungduongphap.com/CDP/Hoa%20co%20chieu%20dai/1%20mau%20do/mau%20do%20%2815%29.gif

Cung kính chắp tay được mười công đức:

1.  Ðược phước báo thù thắng.
2.  Sanh nhà giòng tộc cao.
3.  Ðược sắc đẹp thù thắng.
4.  Ðược âm thanh hay thù thắng.
5.  Ðược bảo cái đẹp thù thắng.
6.  Ðược biện tài vi diệu thù thắng.
7.  Ðược đức tin vi diệu thù thắng.
8.  Ðược giới vi diệu thù thắng.
9.  Ðược đa văn vi diệu thù thắng.
10. Ðược diệu trí thù thắng.