TỪ BI THỦY SÁM PHÁP

HT. Thích Trí Quang dịch giải

 

Mục Lục

 

I. Khai Kinh 

II. Kinh 

A1. Mở Đầu Sám Hối 

B1. Lý Do Sám Hối 

B2. Căn Bản Sám Hối 

B3. Những Điều Sám Hối 

B4. Phương Tiện Sám Hối 

B5. Nghĩ Nhớ Tam Bảo Để Sám Hối 

B6. Cảnh Giác Vô Thường Và Khổ Báo Để Sám Hối 

B7. Cảnh Giác Tội Lỗi Để Sám Hối 

A2. Sám Hối Phiền Não 

B1. Sám Hối Căn Bản Của Phiền Não 

B2. Sám Hối Tính Chất Qua Danh Nghĩa Của Phiền Não 

B3. Sám Hối Nhân Duyên Của Phiền Não 

B4. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Nhân Duyên Của Phiền Não 

B5. Giá Trị Của Sự Sám Hối 

B6. Lặp Lại Tâm Tư Để Sám Hối 

B7. Lặp Lại Cảnh Giác Để Sám Hối 

B8. Sám Hối Những Phiền Não Nặng Nhất 

B9 Sám Hối Những Phiền Não Nặng Và Sâu 

B10. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Những Phiền Não Trên 

B11. Lạy Phật Và Lặp Lại Tâm Tư Để Sám Hối 

B12. Sám Hối Sự Chướng Ngại Của Phiền Não 

B13. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Trên 

A3. Sám Hối Ác Nghiệp 

B1. Giải Tọa Nghi Hoặc Bằng Cách Phân Loại Về Nghiệp 

B2. Sám Hối Tổng Quát Về Ác Nghiệp 

B3. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Trên 

B4. Sám Hối Riêng Biệt Về Ác Nghiệp 

C1. Sám Hối 3 Ác Nghiệp Của Thân 

D1. Sám Hối Ác Nghiệp Sát Sinh 

Đ1. Lời Nói Đầu (Lý Do Sám Hối Sát Sinh Và Khổ Báo Của Ác Nghiệp Này) 

Đ2. Nguyên Nhân Và Phương Tiện Của Ác Nghiệp Sát Sinh 

Đ3. Sám Hối Ác Nghiệp Sát Sinh 

Đ4. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Trên 

D2. Sám Hối Ác Nghiệp Trộm Cướp 

Đ1. Lời Nói Đầu (Định Nghĩa Trộm Cướp Và Khổ Báo Của Ác Nghiệp Này) 

Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Trộm Cướp 

Đ3. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Trên 

D3. Sám Hối Ác Nghiệp Dâm Dục 

Đ1. Lời Nói Đầu (Nỗi Khổ Của Ái Dục Và Khổ Báo Của Ác Nghiệp Dâm Dục) 

Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Dâm Dục 

Đ3. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Trên 

C2. Sám Hối 4 Ác Nghiệp Của Miệng 

D1. Lời Nói Đầu (Khổ Báo Ác Nghiệp Của Miệng) 

D2. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Thô Ác 

D3. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Dối Trá 

Đ1. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Dối Trá Nặng 

Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Dối Trá Lớn 

D4. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Thêu Dệt 

D5. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Hai Lưỡi 

D6. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối 4 Ác Nghiệp Của Miệng 

C3. Sám Hối Ác Nghiệp Của 6 Căn 

D1. Sám Hối Ác Nghiệp Của 6 Căn 

D2. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Này 

C4. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Tam Bảo 

D1. Lời Nói Đầu (Lạy Phật Và Lặp Lại Tâm Tư Để Sám Hối) 

D2. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Phật Bảo 

D3. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Pháp Bảo 

Đ1. Sám Hối Ác Nghiệp Vô Ý 

Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Cố Ý 

D4. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Tăng Bảo 

D5. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Cả Tam Bảo 

D6. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Tam Bảo 

C5. Sám Hối Ác Nghiệp Phức Tạp 

D1. Lời Nói Đầu (Tàm Quí Để Sám Hối) 

D2. Sám Hối Ác Nghiệp Mê Tín 

D3. Sám Hối Ác Nghiệp Ngạo Ngược 

D4. Sám Hối Ác Nghiệp Nhậu Nhẹt 

D5. Sám Hối Ác Nghiệp Tự Thị 

D6. Sám Hối Ác Nghiệp Buôn Lường 

D7. Sám Hối Ác Nghiệp Tàn Nhẫn 

D8. Sám Hối Ác Nghiệp Phóng Túng 

D9. Sám Hối Tổng Quát Về Các Ác Nghiệp 

D10. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Trên 

A4. Sám Hối Khổ Báo 

B1. Lời Nói Đầu 

C1. Quả Báo Khó Tránh Nhưng Sám Hối Trừ Được 

C2. Cảnh Giác Sự Chết Và Khổ Báo 

C3. Cảnh Giác Vô Thường 

C4. Cảnh Giác Luân Hồi Khổ Báo 

B2. Sám Hối Khổ Báo Địa Ngục 

C1. Sám Hối Khổ Báo Địa Ngục A Tì 

C2. Sám Hối Khổ Báo Các Địa Ngục Khác 

C3. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Khổ Báo Địa Ngục 

B3. Sám Hối Khổ Báo 3 Ác Đạo Khác 

C1. Lời Nói Đầu (Cảnh Giác Kẻ Chỉ Lo Hiện Tại Mà Không Biết Lo Tương Lai) 

C2. Sám Hối Khổ Báo Súc Sinh 

C3. Sám Hối Khổ Báo Ngạ Quỉ 

C4. Sám Hối Khổ Báo Quỉ Thần 

C5. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Khổ Báo Của 3 Ác Đạo 

B4. Sám Hối Dư Báo Nhân Gian 

C1. Lời Nói Đầu (Mọi Sự Trái Ý Đều Là Dư Báo) 

C2. Sám Hối Dư Báo Nhân Gian 

A5. Phát Nguyện Hồi Hướng 

B1. Tổng Kết Hồi Hướng 

B2. Phát Nguyện Đặc Biệt 

B4. Phát Nguyện Đồng Nhất 
III. Hồi Hướng 

 

Lời Ghi

Dịch sách này tôi cố dùng câu 4 chữ là để dễ tụng. Dẫu rằng như thế có chỗ hơi thừa, có chỗ hơi thiếu, có chỗ phải vụng. 

Trí Quang 

Tiểu Dẫn

Thủy sám là tên tắt, do chính tác giả dùng trong văn. Tên tắt này gọi đủ là Từ bi thủy sám pháp. Sám pháp, gọi tắt là sám, nghĩa là phương pháp sám hối. Phương pháp này mệnh danh Từ bi thủy, gọi tắt là thủy, nghĩa là nước từ bi. Tại sao mệnh danh như vậy thì bài Tựa có nói rõ. 

So với bản in thứ nhất, và thứ nhì, bản in thứ ba này chỉ để phần dịch nghĩa, bỏ phần dịch âm. 

Nguyên văn Thủy sám, mà bản in thứ hai đối chiếu để chữa, nằm trong Đại tạng kinh, quyển 45, các trang 967-978, mang số hiệu 1910. 

Thủy sám có 2 bản chú thích xưa, vào đời Thanh của Trung hoa, và 1 bản mới. 2 bản xưa, 1 của ngài Trí chứng, 1 của ngài Tây tôn. Cả 2 cùng nằm trong Tục tạng kinh, sách 129, liên tiếp từ tờ 145 đến tờ 263. Còn bản mới là của ngài Đế nhàn, nằm trong Đế nhàn đại sư di tập, trọn tập 10. Trong 3 bản chú thích này, bản trước nhất của ngài Trí chứng, cẩn trọng hơn cả. Sự sửa chữa trong bản in thứ hai đã tham chiếu tất cả tài liệu trên đây. 

Ký hiệu dẫn dụng sẽ là, thí dụ: Chính 45/967, là trang 967, quyển 45 của Đại tạng kinh bản Đại chính; Vạn 129/145, là tờ 145, sách 129 của Tục tạng kinh bản chữ Vạn. 

Thủy sám không nêu đại đề tiểu đề, nhưng trong lời văn lại có đủ và rõ. Nay tôi căn cứ lời văn ấy mà nêu đại đề tiểu đề cho dễ nhận. Khi tụng, chỉ tụng những chữ lớn. Mọi chữ nhỏ không tụng. 

Bản chữa và in lần thứ 3 này là định bản về Thủy sám tôi dịch. 

Tựa (1) 

Thiết nghĩ, ngoài thánh điển kinh luật luận được phiên dịch mà có, những tác phẩm của các ngài tiếp theo sau đó thì không thứ nào được viết ra mà không có chỗ sở cảm. Điều đó, nếu nhất nhất nêu lên thì khó mà ghi lại cho hết. Nhưng, ngay như bản linh văn này mà mệnh danh Thủy sám, là vì nguyên do mà tôi xin kể lại sau đây. 

Xưa kia, đời Đường, triều vua Ý tông, có ngài Ngộ đạt quốc sư, pháp danh Tri huyền. Khi chưa là quốc sư, tại kinh đô, tình cờ ngài gặp một tăng nhân, nhưng quên hỏi chỗ ở của vị này. Vị này bị bịnh ca ma la (2) . Ai cũng gớm, chỉ ngài Tri huyền gần gũi, luôn luôn thăm hỏi săn sóc, chưa bao giờ có một vẻ ghê chán. Vì vậy, khi chia tay, vị ấy cảm cái nghĩa và tác phong của ngài, dặn rằng, sau này ngài sẽ bị nạn, lúc đó hãy tìm nhau tại núi Trà lũng (3) ở Bành thành, thuộc Tây Thục, chỗ có hai cây tùng làm dấu. 

Sau đó, ngài Ngộ đạt đến chùa An quốc, đạo đức rực rỡ. Ý tông thân hành đến pháp tịch của ngài, ban pháp tọa bằng gỗ trầm hương và cung phụng rất hậu. Nhưng cũng từ đó, đầu gối của ngài tự nhiên mọc cái mụt "mặt người", mắt mày răng miệng đủ cả, thỉnh thoảng đút cho đồ ăn thức uống thì cũng há miệng nuốt như người vậy. Danh y mời đủ cả mà ai cũng bó tay. 

Ngài nhớ lại lời dặn của vị tăng nhân ở chung ngày trước, nên vào núi tìm. Nhằm lúc trời đã chiều tối, ngài bàng hoàng nhìn khắp bốn phía, thấy hai cây tùng ở trong chỗ mây khói. Tin lời ước hẹn là đúng, ngài bước ngay đến chỗ ấy. Thì là lầu cao, điện lớn, ánh sáng vàng và ngọc giao xen với nhau. Vị tăng nhân đã đứng đầu cửa, đón tiếp niềm nở, và mời ngài ngủ lại. Ngài đem cái khổ của mình nói với tăng nhân thì vị này bảo không hại gì, dưới núi này có một con suối, sáng ngày xuống rửa là khỏi. 

Sáng sớm, đạo đồng dẫn ngài xuống suối, mới vốc nước, mụt ghẻ mặt người đã kêu lớn lên, khoan rửa đã, ngài là kẻ biết nhiều, hiểu rộng, đọc hết cổ kim, vậy mà ngài đã đọc cái chuyện Viên Án với Triệu Thố trong Tây Hán thư chưa? Đọc rồi, ngài Ngộ đạt trả lời. Cái mụt lại bảo, đọc rồi mà ngài không biết Viên Án đã giết Triệu Thố sao? Ngài là Viên Án, còn Triệu Thố là tôi đây. Triệu Thố bị chém ngang lưng ở chợ phía đông, oan khốc đến mức nào. Nên bao đời tôi đã tìm cách báo ngài. Nhưng ngài mười đời đều làm cao tăng, giới luật nghiêm tịnh, sự báo oán của tôi không có cơ hội. Nay ngài hưởng sự đãi ngộ của vua chúa quáxa xỉ, lòng danh lợi mống lên, cái đức có phần thương tổn, tôi mới hại ngài được. Ngày nay, mong ơn tôn giả Ca nặc rửa cho tôi bằng nước "từ bi tam muội", từ nay sắp đi, tôi không còn là kẻ oan gia của ngài nữa. 

Ngộ đạt quốc sư nghe mà cơ hồ hồn phách thoát khỏi cơ thể, luôn tay vốc nước mà rửa, đau thấu xương tủy, ngất đi hồi lâu mới tỉnh. Coi lại thì mụt ghẻ mặt người đã không còn nữa. Ngộ đạt quốc sư mới biết các vị hiền thánh xen lẫn dấu vết trong dân gian là điều mà người phàm khó lường biết nổi. Muốn trở lại chiêm bái, nhưng ngoái nhìn thì tự viện đã không còn. Vì vậy, Ngộ đạt quốc sư mới dựng thảo am ngay nơi chỗ ấy, và sau này thành một tự viện. Tống triều ta đây, niên hiệu Chí đạo, sắc tứ là Chí đức thiền tự, có vị cao tăng tên Tín, húy Cổ, viết bài ký sự ghi lại việc này rất rõ. 

Ngộ đạt quốc sư, lúc ấy, cảm kích sự kỳ lạ của Ca nặc tôn giả, thấm thía rằng oan trái nhiều kiếp phi gặp thánh nhân không làm sao cởi mở cho được. Nhân đó mà thuật lời thánh giáo, viết ra sám văn này, để hôm sớm lễ bái trì tụng, và sau đó đã phổ biến khắp cả nhân gian. Sám văn gồm có ba cuốn ngày nay là sám văn ấy. Đem nước từ bi tam muội rửa sạch oan nghiệp nhiều kiếp, lấy ý nghĩa đó để mệnh danh Thủy sám, là Ngộ đạt quốc sư cảm sự kỳ lạ của Ca nặc tôn giả, nên chính xác cái tên và nêu lên cái nghĩa như thế để báo đáp ơn ngài. Nay kể rõ sự thật từ ngày xưa, nêu cao cống hiến của người trước, là mong những kẻ sau này, hoặc lễ bái hoặc trì tụng, hễ dở sám văn ra là đã biết sự tích người xưa vốn có lý do, và nhân quả nhiều đời vẫn không khuất mờ. 

 

[Phần-1] [Phần-2]